|
Một cái nh́n về thơ Mặc Giang
Bảo Luân

(Trong giới hạn
bài này, người viết chỉ bàn một số nội dung, c̣n
nghệ thuật th́ xin được miễn.
Những vế, những câu trong ngoặc
kép “”, nhưng ngay trước và sau nó không nêu xuất xứ,
cũng là thơ của Mặc Giang ).
Bàn về thơ của thi hào Mặc Giang, tôi không
muốn học đ̣i cách nói như cụ Vơ Đ́nh Cường đă tả trong Ánh Đạo Vàng
là “đời Ngài là một biển cả, mà múc nước con chỉ có hai bàn tay”.
Chỉ nói đơn giản thôi, thi phẩm của nhà thơ Mặc Giang là rừng bát
ngát thẳm sâu, c̣n tôi là kẻ lạc lỏng ngơ ngác gom nhặt từng ngọn lá
lưa thưa. Đem sở học ḿnh để bàn thơ Mặc Giang, như nh́n trời qua
cuộn giấy vo tṛn trong tay. Thế nhưng sao lại dám“cất bước phiêu
lưu” như thế ? V ́ chẳng phải viết cho riêng bất ḱ ai. Chung cho
con cháu tổ tiên Lạc Hồng. Đối với di sản được kết tinh bằng cả tâm
hồn trí huệ và ḷng nhiệt thành của Cha Anh, chúng ta phải nâng niu
giữ ǵn, cho dù chỉ bằng những giọng tiếng yếu ớt hay bàn tay èo uột
dờn xanh. Bằng không, mẹ Âu Cơ của chúng ta sẽ nhỏ lệ nhạt nḥa trên
vách đá oằn lịch sử thời gian, Cha Long Quân sẽ tủi mặt khóc thầm
giữa non sông gấm lệ. Trong cái nh́n hun hút tận đầu mạch nguồn, Mặc
Giang chỉ ra, trong chúng ta, có máu lệ của tổ tiên, mang măi hồn
sông núi Việt Nam muôn đời thân thương. Nên nhứt cử nhứt động của
Mặc Giang, đều trên cơ sở xây đắp t́nh thương, tài bồi đạo nghĩa cho
con cháu Rồng Tiên. Để biết được tư tưởng tư duy vượt thời đại ấy
thể hiện ra sao trong toàn bộ tác phẩm cuộc đời, chúng ta hăy thử
t́m hiểu vài nét tinh anh trong thơ của Mặc Giang.
1.
Nhân sinh quan trong thơ Mặc Giang
Quan niệm, quan điểm về bản chất hay nguồn gốc
con người và vạn hữu, là thuộcàtriết học hoặc siêu h́nh học. Đă có
những minh sư hiền triết tŕnh bày dưới nhiều quan điểm và dạng thức
khác nhau. Tùy mức độ trí tuệ nhận thức của loài người, mà quan niệm
đó được nh́n nhận đánh giá thông qua những giá trị khác nhau.
Trong ḍng sống không thể h́nh dung đâu là
khởi thủy này, sự xuất hiện mỗi tư tưởng, vừa được xem là sự tiếp
thu một cách sâu sắc, thông minh, biết phân tích và sáng tạo về
triết lí nhân sinh, nhưng cũng vừa là một tư tưởng đột phá tuyệt
siêu. Tư tưởng đại diện trong một thời đại nhất định nào đó, tuy
được xem là sự thống nhất hài ḥa của xưa và nay, tiền bối và hậu
bối ; thế nhưng giá trị sau cùng vẫn chính tùy thuộc trí tuệ sắc sảo
nhạy bén, biết suy tư và chiêm nghiệm một cách thông minh, sắc bén,
thuần chính. Từ góc độ này để nhận định đánh giá một tư tưởng lớn,
th́ dù muốn dù không, cũng phải khẳng nhận rằng, tư tưởng thơ Mặc
Giang đă chiếm một vị thế ổn định sáng giá trong ḍng tư tưởng viên
dung giữa triết lí hiện sinh và triết học tư biện. Xuyên qua ng̣i
bút kiều diễm, lời thơ thống thiết, như đang chắp cánh bay vào cuộc
sống để cải tạo cuộc đời của ông, chúng ta sẽ có cơ hội có được cái
nh́n, cách nghĩ cuối cùng độc lập khách quan đối với tư tưởng thơ
Mặc Giang.
Qua thơ ông, ta thấy cái gọi là vạn hữu vũ trụ
có mặt từ thuở hồng hoang, hay kiếp sống con người lan trải rộng dài
trên vạn nẻo đường, luôn trong trạng thái diệt sanh, sanh diệt nhanh
hơn ḍng thác lũ. Sống và chết, chết và sống là những cơi đời vô
định phiêu lưu. Xưa kia và cả nay mai, những biến cố hải chấn, địa
chấn và bao tai họa khác, làm hàng ngàn hàng vạn người “mới ngày nào
những ân t́nh tŕu mến, mới ngày nào những bịn rịn chia xa” đột ngột
đi vào cơi chết đến năo ḷng, th́ ai cũng sẽ thấy:
Sống và chết, không kịp chia tích tắc
Có khi chết một cái ào, tím ngắt
Có khi chết một cái ào, im re
Có kinh chết, một cái ào nín khe
Thật mơ hồ, trông c̣n hơn mộng mị
(Mặc Giang, bảo vệ hành tinh xanh)
Sự biến chuyển từ mạch sống hân hoan trong dệt
mộng ươm đời hạnh phúc, đến cái chết kêu ông xanh không thấu, gọi bà
dày không hay như thế, đúng c̣n hơn cả chiêm bao. Trong thế giới đối
đăi, mộng th́ không phải thực, mà thực th́ không phải mộng, nhưng
giờ th́ không thể phân ranh xẻ giới. V́ “chết thật t́nh mà nghe sao
vô lí, …mới đó mà trôi về một cơi lăng quên, mới đó mà lung linh mờ
cát bụi”. Triết lí về vô thường biến hoại ở đây khiến ta ư thức được,
“trong hội ngộ đă sẵn mầm chia li…”. Đồng thời với ư thức này, người
ta càng thấu biết “trong tích tắc, biết bao nhiêu sự chết, chứ đâu
cần một đêm với một ngày, chứ đâu cần một tháng với môït năm…”
H́nh ảnh thân thiết gần gũi sau chết chóc li
tan, là một hiện trạng chua chát phủ phàng, khiến con người thêm
chán ngán về sức mạnh của vô thừơng, là h́nh ảnh một chiều nào đó:
Đi trong nghĩa trang chợt nh́n nấm mộ
Nắp quan tài vỡ một lỗ tan hoang
Nh́n vào trong tôi rún rấy bàng hoàng
Một đầu lâu với xương khô vụn vỡ
…Nấm mộ kia một thời nào kiếp trước
Nắm xương tàn c̣n sót lại phôi phai
(Mặc Giang, vào cửa tử tôi t́m về cơi chết)
Lối nh́n nhận, quan niệm sâu xa thống thiết về lẽ
sống như thế, biết đâu có ai đó trong cơi diêm phù ngộ tưởng là cái
nh́n thiếu lạc quan, buồn tẻ thê lương. Sao không thả mộng hồn say
phách tán cho chuỗi ngày hoan lạc dương gian, mà lại trầm ngâm với
nỗi buồn năo nềâ cơi chết. Đâu không biết rằng, trốn chạy, phớt lờ,
không đủ nghị lực, không dám đối diện sự thật muôn đời, khiếp sợ đến
nỗi không dám nh́n, không muốn bàn, mất đi tiết khí chí dũng trong
đời, mới là bi quan. Tội nghiệp, và xót xa biết bao !!!…
Trong cái gọi là“sống và chết gảy cung đàn bất
tận” hay là “tử sinh hai nhịp vơi đầy, cung đàn sống chết c̣n đây vô
thường” ấy, là có cơ hội để con người tiếp xúc với triết lư trong
ḍng sống chết luân lưu. Đó là tiếng chuông báo động về luân hồi. Ư
thức, ư niệm về luân hồi, là một trong những nét son về triết lí
hiện sinh nổi bật trong thơ Mặc Giang. Tŕnh bày về triết lư này,
Mặc Giang nói :
Khi ḍng sinh đă bắt đầu chuyển
mạch
Th́ ḍng tử mở ra môït cơi đi về
Hoặc
Khi cơi sinh hiện ra thêm một vệt
Th́ cơi tử lại trống mất một ô
(Mặc Giang, Tôi bước đi giữa đôi bờ sinh
tử)
Ông chỉ ra, sống và chết chẳng phải hai cơi riêng
rẽ phân thù sai khác, mà tương quan mật thiết, bất khả phân giữa hai
chỉnh thể đối lập, thống nhất trong mâu thuẫn. Nó là một ṿng tṛn
khép kín liên tục. Ngay khi mạch sống mới bắt đầøu hé nụ, th́ mầm
chết đă kết trái trên cánh hoa tàn. Để có một chúng sanh thọ thai ở
nơi này, th́ trước phải có một chúng sanh ở chỗ khác qua đời. Trong
Vạn Hữu Trường Ca, phần “ma quỷ thân thương”, Mặc Giang tả : “ḱa em
bé vừa sinh ra đó, trên dương gian bỏ xó một người. Em cười mở mắt
sáng ngời, đă tan hồn phách của người trần gian.” Em bé quỷ con mới
sinh ra đó, không ai lạ, mà chính là tái sinh thoát kiếp của một
linh hồn của kiếp người. Tác giả lại khẳng định thêm :
Sáu nẻo xuống
lên là chi nhĩ !
Bốn loài sinh tử tợ chiêm bao
!
Xa xưa như mới hôm nào
!
Ngày mai mờ mịt cớ sao đón chờ ?
( Mặc Giang,
Vạn hữu trường ca )
Trong mạch tử sinh luân hồi, là h́nh ảnh của những
kiếp thác thai bất định, hôm nay là người, nhưng mai kia là kiếp
sống thay h́nh đổi dạng trong mạch tương lưu giao cảm của kiếp hữu
t́nh. Con người sau khi chết không nhất định tái sanh trở lại làm
người, mà tái sinh xoay chuyển vào trong sáu cơi bốn loài, bởi con
người không phải là chúng sanh duy nhất. Do đó có thể kết luận, “tử
là điểm ngừng mà sinh là tinh ba xuất phát, linh tri đó ứng tùy một
thân khác, chiêu cảm cùng vạn hữu khứ lai ”, và v́ khi “ đă đi th́
không phải là hai, nhưng khi đến là hai chứ không phải một, như một
bản trường ca tương tục âm thanh nhiều nốt…”.
Chết chỉ là đánh dấu bước ngoặc chuyển tiếp trong ḍng sống luân lưu
vô tận, c̣n linh tri hay linh hồn tiếp tục trong một đời sống mới,
như mặt trời tuy lặn nơi này, nhưng thực tế đang mọc ở nơi kia. Th́
ra, “giữa tử sinh có sợi dây vô h́nh ḱ diễm, như bản trường ca sinh
tử vô cùng.”
Thế nên, chết là sự thể hiển nhiên đau thương
ngàn đời hiển hiện, nhưng chỉ là huyễn hữu như giấc mộng phù du, v́
“lang thang từ kiếp luân hồi, mà không thật có có luân hồi cưu mang,
vẽ lên lối dọc đường ngang, lối dọc biến mất lối ngang không về, tử
sinh sinh tử lí hề ……” Cả nhân gian sinh tử luân hồi thống khổ mà
chỉ như một tṛ hề. Sau hiện tựơng sống chết ấy là cái không từng
sống chết.
Triết lư về sống chết của nhà thơ Mặc Giang,
cho chúng ta hiểu rơ, hai bờ sống chết là trên cùng một mạch tương
thông, mà ở đó đâu c̣n nghe tiếng gơ nhịp của thời gian. Giá trị
thời gian không thể thiết lập. Theo Mặc Giang, ư niệm sanh và tử,
chỉ là danh từ của tương quan đối đăi, trong những giả định về thời
gian. Xuyên qua đó, nhà thơ cũng đă chỉ ra, trong hiện tại cũng có
mặt xa xưa, và trong xa xưa cũng vốn đeo ḅng cái hiện tại sống động
này đây, và tương lai càng không thể thiết lập và minh định. Thông
qua chuỗi luân hồi sáu nẻo, Mặc Giang cho chỉ chúng ta nhận thức
được triết lư về thời gian theo Kim Cang Kinh , là “quá khứ tâm bất
khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc, vị lai tâm bất khả đắc.” Ư thức
được sự tương quan giữa ba khoảng thời gian ấy, là cơ sở để chúng ta
càng hiểu thức rơ :
Mồ hoang như ảnh ảo
huyền
Thân như bèo bọt người thuyền
phiêu du
Từ
trong vũ trụ âm u
Em như điểm sáng thiên thu
vẫn c̣n
(Mặc Giang, Vô t́nh tôi
thăm Nấm mộ hoang Bé Thơ)
Em ơi ! buồn khóc mà chi, tiếc thương mà chi ! Nấm
cô mộ lạnh lùng đến tàn nhẫn ấy, nào phải h́nh hài đích thực của em,
nó chỉ là “ ảnh ảo huyền”. Em vẫn c̣n măi giữa thuyền đời vô tận đó
nghe em, ! Tôi đă thấy rồi, em ra đi lang thang từ ngàn xưa, và cho
đến cả mai sau. Do đó nên biết, tuy là “đường sinh tử đă ṃn lối cũ,
nẻo hợp tan đă phủ bao lần, bụi mờ rũ bóng phong trần” , nhưng mà em
và tôi vẫn chưa hề sống hay chết, vẫn là “trăng sao chưa nhạt phù
vân chưa nḥa.” Đây hẳn là sự tương quan giữa cái hữu hạn và vô hạn,
giữa hữu h́nh và vô h́nh, giữa vật chất và phi vật chất. Trong sanh
diệt, tồn tại cái không từng sanh diệt, đó là chân thể bất biến, là
linh tri vĩnh hằng. Sống và chết có mặt trong nhau, là sự tương quan
:
…Sông với
nước chung đôi một bóng
Nước với sông một bóng chung
đôi
Trăm năm
cũng chỉ một đời
Ngh́n năm cũng chỉ một lời nước sông.
( Mặc Giang, Vạn hữu trường ca )
Ĺa sông th́ đâu c̣n nước. Không nước th́ sao có
thể thành sông. Sông nước chỉ là hai khái niệm được thiết lập trên
trục tương quan đối đăi. Thực chất là một quan hệ đẳng thức. Trong
sinh diệt có cái bất sinh diệt. Trong ra đi đă có sự hứa hẹn trở về.
Trong cơi đi về đă có sẵn ngày biệt li. Qua tŕnh bày triết lư về
ḍng sinh mệnh, Mặc Giang chỉ ra, không cần phải né tránh cái chết,
và đi t́m cầu sự sống, v́ cả hai vốn có mặt trong nhau, vốn có quan
hệ “sông với nước chung đôi một bóng, nước với sông một bóng chung
đôi… sông đă có cớ chi nhớ nước, nước đă ḥa một thể cùng sông.”
Hiện tượng sóng đào bọt bèo phập phều của sông không vốn không tách
rời bản tánh bất biến của nước. Cái hạn hữu sinh diệt sinh diệt theo
thời gian và ư niệm, nào có cách biệt với cái bất sinh diệt.
Vậy nên, chớ khi sinh ra mới bảo là có, chớ
khi chết rồi mới nói là không, v́ “có từ thuở hồng hoang mờ ảo, tán
từ thời tuyệt xảo lân tinh, mờ mờ ảo ảo dáng h́nh, có không không có
lưu linh vậy mà.” Nên nếu bảo rằng không, th́ phải không ngay lúc ra
đời . Nếu nói có th́ phải ngay khi không. Ư niệm về “có- không”,
không nên để bị đánh lừa bởi thế giới hữu h́nh, vô h́nh, hay bởi
kiến văn giác tri thường thức. Mặc Giang c̣n chỉ rơ thêm, “sinh là
lúc từ không ra có, tử là thời từ có ra không, có không một thể
tương đồng, duyên c̣n ta có đến không ta về” .V́
“có không một thể tương đồng”, nên chớ khi sanh mới nói là có, khi
chết rồi mới nói là không. Cả hai đều vần vũ có mặt trong nhau. Hiểu
được vậy, cũng chính là lúc ta huênh hoang hát lời ca trên đồng
hoang sinh tử:
Từ trong cát bụi tử sinh
Ta xin nhớ lại bóng h́nh của ta
Từ trong tỉnh mộng đêm qua
Ta xin nhớ lại quê nhà xưa nay
(Mặc Giang, Ta đây, hiện hữu vô cùng )
Do thông suốt lẽ sinh tử, nên nơi đây, Mặc Giang
đă chỉ rơ thêm, lặn hụp chơi vơi trên từng nhịp bước tử sinh như sự
chuyển tiếp của sóng ṃi, như cát bụi hư nát phủ mờ ḍng sông, thế
nhưng bản tánh chân thân chưa từng biến chuyển đổi thay. Ra đi biền
biệt trong dặm trường tử sinh, nhưng ta nào có ra đi, mà đă và đang
trở về với ngôi nhà chân thể. Thế nhưng trở về mà thật sự đâu
có trở về, v́ có ra đi bao giờ đâu mà trở về. Ngôi nhà quê hương xưa
ấy vốn ở ngay trong mọi sinh linh. Từ đó, sẽ vang vọng “tiếng hát
chưa tan” :
Tôi đi từ chỗ không đi,
Luân hồi không đến ngại ǵ có không
Tôi đi pháp giới rỗng không,
Tôi về vạn hữu hằng c̣n hiện ra
(Mặc Giang, Sắc không mỉm nụ vô cùng)
Tại đây, quan niệm về nhân sinh và vạn hữu của thi
hào Mặc Giang đă đưa chúng ta đi sâu thẳm hun hút tận cùng của lối
về tĩnh lự, để phóng cái nh́n sâu thẳm vào diệt sanh của ḍng đời,
vào hữu hạn của kiếp người. Con người lù lù một đống ấy v́ không
thật có, nên nói rằng sinh ra từ chỗ không sinh, mà chết đi cũng
chẳng phải đi vào cơi lunh linh ảo huyền. Đi hay về, sống hay chêát,
chỉ trên cùng một mạch tương thông lưu cảm, nào có ngại ǵ “có”ù với
“không”. Pháp giới c̣n đó nhưng lại hằng rỗng không, vạn hữu rỗng
không nhưng không khi nào không hiện hữu. Từ trong hữu thể mà thấu
đạt vô thể, từ trong hữu cùng mà thấy rơ vô cùng, nhà thơ lại dẫn
chúng ta trên lộ tŕnh đi về “nguyên sơ, c̣n đó bóng h́nh” :
Vỡ toang, chấn động ba ngàn
Mười phương thế giới chưa tràn chân lông
(Mặc Giang,Ta đây, hiện hữu vô cùng )
Cả vũ trụ mênh mông, càn khôn mười phương thế
giới khôn cùng như thế, nhưng lại nhét chưa đầy một chân lông. Theo
chiều hướng tư duy thông thường, sẽ thấy thật qúa vô lư, nghịch biện,
làm cho choáng voáng, vo đầu bóp trán. Thế nhưng nhà thơ Mặc Giang
chẳng phải chỉ nói rơ sự thật muôn đời, chân lí vĩnh hằng đó sao. Ba
ngàn cơi nước và mười phương thế giới chỉ là có ở hiện tượng phù
phiếm huyễn hóa, như hoa đốm trong hư không, bởi lư thể nó là không.
Nhờ “không” mà thiên hà đại địa và con người có mặt. Ĺa “không” th́
ngay một vi trần cũng không thể tựu thành. Pháp giới tuy thiên h́nh
vạn trạng, nhưng thực chất không thể nắm bắt và khái niệm. Do đó
“mười phương thế giới chưa tràn chân lông” chính là triết lư “sắc
chẳng khác không, mà không cũng chẳng khác sắc”. Tuy như thế, nhưng
thực ra nhân sinh và thế giới quan của nhà thơ chẳng phải dừng lại ở
chỗ minh định sự không khác nhau giữa không và sắc, mà chính đang
triển khai tư tưởng biện chứng về mối quan hệ tương tức tương nhập,
mở ra một “ cơi đi về” trong vô thỉ vô chung, đó là “sắc tức là
không”, và “không cũng tức là sắc”. Đó chính là thông điệp của “pháp
huyền vi có mặt từ nhịp bước vạn đừơng… có với không thật ra chỉ một
chữ, không với có thật ra chỉ một lời” . Từ đây, nhân sinh quan của
nhà thơ như nhắn gởi cho nhân loại hiện tại này và mai sau khúc ca
chứng đạo bay vào cát bụi của kiếp người, là “đă không th́ mấy cũng
vừa, có th́ một điểm cũng thừa mà thôi”
Thông qua nguyên lí sắc
không ấy, nhà thơ đă mang lại cho con người cái nh́n triệt để tận
cùng huyền vi. Con người và vũ trụ vạn hữu chỉ sanh diệt c̣n mất
trong thế giới hiện tượng, c̣n bản thể th́ chưa từng sanh hay diệt,
đến hay đi……. Chính nó tự tiêu dung trong những phạm trù khái niệm
đối lập. Thế giới và nhân sinh vốn tồn tại từ vô thỉ, nhưng cũng
chính là vừa xuất hiện ngay trong đương niệm. Tất cả vạn hữu trải
dài trong vô tận, không ngằn mé, nhưng cũng chỉ là nhét chưa đầy
chân lông cọng tóc mà thôi. Chúng ta thấy rơ ràng, trong quan niệm
về nhân sanh vạn hữu, nhà thơ Mặc Giang đă vo tṛn đơn vị không gian
và thời gian thành một khối “nhất chân”, không t́m đâu ra, nhưng
không đâu mà không có. Không đâu không có nhưng lại là mất hút tự
ngàn xưa và chưa từng lên tiếng bao giờ.
Ngay khi nói, “sắc chẳng khác không”, là trong
thâm ư Phật tổ đă mốn nói “sắc tức là không” rồi. Không phải ngẫu
nhiên nhà thơ lại đưa ra luận thuyết về sự tương quan giữa sinh tử
và không sinh tử, giữa hiện tượng và bản thể, hay nhân sinh là vô
thường biến chuyển, luân hồi, khổ đau, không thực có. Mục đích tối
hậu mà nhà thơ Mặc Giang, chính là muốn chỉ ra cho con người, muốn
thắp sáng cho cuộc đời là nguyên lí duyên khởi của sự vật. Đó là một
chuỗi móc xích liên hệ vô cùng, cái này có nên cái kia có, cái này
không th́ cái kia không. V́ mang tính chất duyên khởi, nên vô ngă vô
thường khổ đau và luân hồi. V́ duyên khởi nên tánh vạn pháp là không.
Tánh của vạn hữu là không là v́ duyên khởi.
Nhờ sự chiếu rọi của ánh sáng duyên khởi, con
người mới hiểu rơ, sinh tử sở dĩ có mặt là do sự khơi đôïng của sơ
niệm vô minh, là sự khơi ng̣i cho của tiến tŕnh luân hồi và khổ đau.
Cho nên nói rằng, vô minh, là cái bất giác đầu tiên trong tiến tŕnh
duyên khởi của ḍng sống. Mà những ǵ được vận hành dưới nguyên lí
duyên khởi th́ không thật. Nên vô minh không có cái ngă tồn tại biệt
lập, v́ vậy có thể chuyển hóa. Chỉ khi nào chuyển hóa hay chấm dứt
vô minh, mới chấm dứt mọi tiến tŕnh sống chết. Vậy, đưa ra cái nh́n
về sự tương quan giữa bản thể và hiện tượng của ḍng sinh mạng con
người, nhà thơ Mặc Giang muốn không những chỉ có chỉ ra cho con
người hiểu rơ bản chất ḍng sống là duyên sinh, không có một cái ngă
độc lập, mà c̣n muốn nói rằng, trần gian là hoàn toàn có thể cải tạo
chuyển hóa, khổ đau có thể chuyển thành an lạc.
Từ những ǵ đă đề cập một cách khái quát sơ
lược trên, chúng ta thấy nhà thơ Mặc Giang có cái nh́n trầm thống,
ch́m lắng, sâu sắc về những giá trị vĩnh hằng và và khiếm khuyết của
nhân sinh. Cái nh́n này đương nhiên đă được sàng lọc qua sự phân
tích, thực nghiệm, kinh nghiệm sâu dày của con tim và khối óc. Con
tim đă từng rung lên từng nhịp đập yêu thương cuôïc đời, khối óc đă
bao kiếp rồi thẩm thấu liễu tri những vụn vỡ thành hoại của ḍng
sống. Từ đó, cho chúng ta càng thấy rơ, nhân sinh quan của ông hơn
lúc nào hết, cần được tư duy phân tích một cách chín chắn, siêu việt
những giá trị khoa học thường thức, để đi đến tiếp nhận như không
khí và hơi thở. Nếu không, th́ những giá trị quư báu chân thực về
quan niệm nhân sanh sẽ đi vào hư ảo méo mó, rỗng không và tụt hậu.
Có được cái nh́n về nhân sinh và vũ trụ như
thế ấy, không biết tự lúc nào, đă tạo nên một Mặc Giang hiên ngang
đầy nghĩa khí , đă “nện một khèo, ứ nự, giáng một búa, thất kinh, hư
vô treo mông mênh, hỏi làm chi vũ trụ”, rồi chụp bắt tầng không
trong bàn tay, để mà “gom ông trời một bọc, gom trái đất một bao,
như đời tôi một túi”. Và đă tuệ tri ,“tay cầm chuỗi hạt chưa lần,
Long Hoa đă hiện, Linh Sơn chưa tàn.” Vậy phong thái sống cụ thể đối
trước cuộc đời, với c̣n mất vinh nhục ra làm sao, thiết nghĩ, chỉ
cần t́m hiểu vài chí khí, nghĩa tiết thể hiện trong vài thi phú
tuyệt tác của ông, th́ cũng bổ ích cho thế đạo nhân tâm lắm rồi !
không th́ chẳng phải đáng tiếc lắm sao!
2.
Thái độ và hướng sống
Như chúng ta đă biết, thơ là kết tinh tinh hoa
của tâm hồn, là tiếng nói trung thực và rung động chân thành của
nhịp đập cảm xúc. Tiếp xúc với thi phẩm và tác giả, cho chúng ta
nhận ra, diễn biến tâm tư biểu đạt trong thơ với con người đích thực
của ông là một nhịp ḥa điệu. Để rồi, cốt cách thể hiện trong thi
phẩm, càng cho chúng ta hiểu nhiều hơn, sâu hơn về thái độ và một
hướng sống chí thiện viên dung.
Giữa biển đời quay tít mù khơi, giữa vật lộn
bon chen trong ḍng sống hoa lệ, khổ đau, thành bại nhục vinh, đổi
thay của thời cuộc và ấm lạnh t́nh người, nhà thơ đă nện những bước
chân vững chắc, đầu ngẩng cao hướng về phía trước, đôi mắt sáng ngời
nh́n tới tận trăng sao.
Bước đi trong đời giữa bốn mùa hoa lá, giữa
gió nắng mênh mông đong đầy cát bụi dặm trường, chúng ta bắt gặp
ngay h́nh ảnh của một người phiêu du vô định. Đối với phiền toái của
thế sự, th́ biết “ quên đi cho cạn ưu phiền, bỏ đi cho sạch đảo điên
cuộc đời, ta vui ta hát ta chơi…” Đó cũng là h́nh ảnh của một người
khùng, đang ngao du cùng khắp thiên hạ. Bên cạnh những người “giàu
sang, phú qúi, keo kiệt, ḅn chài”, là h́nh ảnh một người :
…… Đi khắp đất đâu nơi
nào có cửa
Ngủ khắp nơi đâu
chẳng phải là nhà
Giàu có quá ta, chẳng
có chi mà dư thấy bà
… Đâu tham lam, nhỏ mọn,
hẹp ḥi, ích kỉ
…Danh lợi, quyền uy,
đem nhét một bồn binh
Bỏ trong túi tanh hôi,
ôm mối sầu vạn kiếp
Lâu lâu móc ra coi,
nó kêu đồ oan nghiệt
…Nếu tái sinh và cần
chọn lựa, th́ tôi là một người điên…
(Mặc Giang, tôi chỉ là một
người điên)
Ôi ! người điên“tội nghiệp” của tôi ơi !!! Điên
kiểu đó th́ khó có tỉnh nào“theo” cho kịp, khùng kiểu ấy th́ hiếm
trí nào “sánh” cho ngang. Điên mà khiến trời đất nghiêng ḿnh, gà
tàng mà làm “ngân hà xao xuyến tiếc hơn thua !!!” Danh lợi quyền uy
đă trở thành đồ phế liệu tanh hôi, nên cho vào trong một xó như đôi
dép bỏ; nhỏ mọn, ghét ganh, tật đố đă quẳng một gánh cho trôi sông.
Đó cũng chính là thái độ “lợi danh rao bán không mua, ngàn vàng ế ẩm
dư thừa mà thôi.”
Không biết cốt cách của người điên đă tạo ra
sự phóng khoáng “đi khắp đất đâu nơi nào có cửa”, hay chính thái độ
xem “ngủ khắp nơi đâu chẳng phải là nhà” đă phác họa nên người khùng
ấy, rồi hát tặng nhân gian lời x́nh xoàng: “tôi bước đi trời cao
điểm tựa, tôi bước đi đất rộng tương lân, trời xanh không vướng đầu
trần, đất màu chẳng vướng bước chân dặm dài.”
Trứng có trước hay gà có trước? nếu nói một trong hai rơi vào trước
hoặc sau, th́ lập luận chỉ là một ṿng xoáy li tâm. Bước đi mà “đầu
không vướng trời, chân không vướng đất” ấy, là hệ qủa của con người
đích thực của tác giả; hay chính phong thái ấy đă tạo tựu chân nhân
của tác giả, thật vi tế, khó mà quan niệm cho được. Trong thước đo
thời gian để đặc định về hiện hữu giữa con người chân nhân và phong
thái, th́ đó là bước chân dung dị b́nh thường, nhưng rất đỗi phi
thường. Trước, trong và sau khi đạt được phong thái thong dong, nhà
thơ đều đă chiêm nghiệm được “lợi danh, là một băi phù du lầy lội.
Cuộc đời, là một băi nhiễm thể phù sinh, trôi bồng bềnh những cặn bă
nhục vinh, và bầm dập những rong rêu thành bại ” . Đồng thời, tại
đây chính tác giả cũng âm thầm thức tỉnh thế nhân, “công danh giàu
sang như mây nổi, năm tháng đời người tợ tên bay” ( HT Thanh Từ dịch,
Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục, sanh tử nhàn nhi dĩ )ø
Xem nhục vinh, lợi danh, thành bại đều là
thứ lầy lội cặn bả rong rêu, khiến anh “khùng thế kỉ ”--- khùng mà
mở ra một chân trời cao rộng đi về “viễn xứ”, khùng “chẳng có chi mà
dư thấy bà” ấy chẳng biết làm chi cả, mà chỉ :
…Góp nhặt lá vàng trên những con
đường sỏi đá quanh co
Đói ăn, khát uống, mệt nghỉ
ngáy kho kho
(Mặc
Giang, tôi chỉ là một ông thầy tu).
Tuy rất b́nh thường, nhưng nếu làm việc này lại là
người “chẳng có chi mà dư thấy bà”, th́ lại siêu thường. Phải chăng
đây là phong thái “ đói th́ ăn chừ cơm tùy ư, mệt th́ ngủ chừ nào có
quê hương… Nhọc chút chừ nghỉ đất hoan hỉ, khát uống no chừ thang
tiêu dao.” (HT Thanh Từ dịch, TTTS ngữ lục, phóng cuồng ca ) .
Những món như cơm tùy ư, đất hoan hỉ, thang
tiêu dao, v́ siêu thực, nên không t́m đâu ra, nhưng cũng không ngoài
cái thực, nên không đâu là không có. Ở đây, tác giả lại v́ “đốt bếp
lên hâm chẳng có ḷ”, nên ăn uống như là việc vào rừng không động lá,
vào biển không quậy sóng, dọc ngang cùng khắp mà chẳng rơi vào “có”
“không”. Đây hẳn chính là lúc chúng ta bắt gặp một người, mà
:
Kinh luân trống rỗng, lúa thóc
thủng bồ
Đưa không nhận, đẩy không cho
Đường không đến, nẻo không đi,
không thêm không bớt
(Mặc Giang, tôi chỉ là một ông thầy tu)
“Kinh luân trống rỗng, lúa thóc thủng bồ” là cái
nghĩa khí phi thường của đấng trượng phu. Nếu nói đủ th́ chỉ cần một
chữ cũng đă đủ. Nếu không đủ th́ ngàn vạn lời cũng là trống không.
Đó cũng có thể là gia tài kếch sù nhưng nh́n không thấy, không thấy
nhưng lại sờ sờ trước mắt; đổ hoài không đầy, lấy măi không cạn. Nên
không thèm nhận, mà chẳng cần cho. Khi tác giả ung dung trên con
“đường không đến, nẻo không đi, không thêm không bớt”, là lúc :
Cơi trần gian, an lành, xáo
trộn, vẫn bỉnh bơ !
Ḷng thế nhân đăi bôi, hờ hững,
con cóc khô !
(Mặc
Giang, tôi chỉ là một ông thầy tu).
Người ta thường đảo điên choáng voáng trước khen
chê, nguyền rủa, được mất, thịnh suy… Mặc Giang xem nó chỉ là tṛ
huyễn hoặc, là “con cóc khô”. Sự an nhiên, điềm tĩnh, mặc xác trước
những nóng lạnh t́nh đời này càng khắc họa rơ chân dung một hiền sĩ
trí dũng, đúng là : “như tảng đá kiên cố không lung lay trước gió;
cũng vậy, người trí bất động trước b́nh phẩm khen chê của thế gian”.
(kinh Pháp Cú ). Đạt được sự điềm nhiên tĩnh
tại này, cũng chính là muốn bảo với thế nhân:
Đó là
mới thật thâm sâu
Tiểu
nhân, quân tử, trước sau khác ǵ
Trăm
năm một cuộc cười kh́
Cười
như tùng bách xanh ŕ trăm năm
(Mặc Giang,
khôn chết! dại chết ! biết sống)
Thế đó, cuối cùng rồi người thông minh tài trí anh
hùng, kẻ ngu si dại dột đều chỉ một nấm mồ. Cho nên, đối với Mặc
Giang, cuộc đời với bao biến cố tang thương, bao vùi dập hư vinh nổi
trôi ấy chỉ là một cuộc cười kh́. Cái cười của tâm hồn đồng điệu với
hiền Thánh, xót xa thương cảm cho cuộc đời. Đó là cái cười vang tận
không gian, vượt thời gian để đi vào vĩnh hằng, nên cái cười ấy trở
thành cười như tùng bách xanh ŕ trăm năm. Không biết tự bao
giờ, cái cười đơn sơ thường hằng ấy đă vang tiếng nói của “tao nhân
mặc khách trong trời đất”, là :
Ngao du sơn thủy cho cùng khắp
Để tặng nhân gian một nụ cười
(Mặc Giang, Chia chung NỤ CƯỜI)
Và bây giờ, trong mỗi bước chân ngao du cùng khắp
sơn thủy, hay trong lối sống như Trần Tung là “gió mát trăng thanh
sanh kế đủ, non xanh nước biếc nếp sống đầy” ấy, là cái cười của đầu
nguồn mạch Tào Khê, chảy xuyên qua ḍng lịch sử, ḥa vang trên cao
xa, nhưng lại quyện lấy hồn sông núi quê hương, thỏ thẻ th́ thầm với
mỗi cá thể trong ḍng đời. Bấy giờ ở đó là h́nh ảnh của một người du
thủ không nhà, nhưng không đâu chẳng phải là nhà, chính v́ đă tự xác
định, “cuộc đời tôi, một cuộc đời viễn mộng, bước phiêu du, như khúc
rẽ ḍng sông, đi đi măi giữa đất trời lồng lộng, đi cho cùng điếm
cuối cũng như không.” Mỗi bước chân phiêu du
là bước chân đi về vô định, không quay trở lại như khúc rẽ của ḍng
sông, đi mà như chưa từng ra đi, là phong thái trượng phu nghĩa khí,
lúc nào cũng an vui. Đó cũng chính là cuộc sống “chẳng cần cửa tía,
chẳng cần rừng, rốt cuộc chỗ nào chẳng an tâm.”
(HTThanhTừdịch,TTTS Ngữ lục, viếng Đại sư
Tăng Điền) Tức không màn phố thị giàu sang ḷe loẹt hào nhoáng, cũng
không cần rừng rậm vắng xa tĩnh mịch, mà tâm vẫn an nhiên trầm tĩnh.
Rồi tác giả tiến thêm một bước khẳng định :
Cuộc đời tôi, đi nhưng không
cần đến
Mỗi thời không chỉ là điểm
dừng chân (Mặc Giang, bức lục ngân sương)
Hướng sống chân chính là sống với tinh thần đi để
mà đi, chứ không phải đi để mà đến. Đi để mà đi là bước đi ổn định,
không ước vọng ngày mai, không t́m cầu quá khứ, biết sống trọn vẹn
với hiện tại, v́ theo Mặc Giang th́, “cái hôm qua, không là của hôm
nay, cái ngày mai chỉ là một bến đợi”. Nếu cho rằng có một đích đến,
là tự giam hăm ḿnh trong thành tŕ của bước hăm tiến bộ tâm linh,
tự nhốt ḿnh trong lâu đài tự măn. Nếu đi để mà đến, là tâm trạng
“v́ không biết, nên âu lo, sợ sệt; v́ không thông, nên hoảng hốt
chẳng yên”, chứ không phải là tâm thái “đường thênh thang, ta cứ
bước thong dong, Cứ vui sống, và ḥa reo vạn hữu”
của phong độ đi để mà đi.
Thế rồi, từ bước chân đi mà không cần đến,
khiến kẻ không nhà đi càng sâu, càng rộng vào đại tạo vô cùng, thoải
mái như cánh chim giữa trời không :
Tung
cánh gió, nhấc ḿnh xa điểm tựa
Bổng
lưng trời, xé từng khoảng không gian
Vượt
mênh mông, cỡi sóng lướt mây ngàn
Trong bất bận, tôi lù lù lao tới
(Mặc
Giang, Đại bàng tung cánh gió)
“Tung cánh gió, Bổng lưng trời, lướt mây ngàn” là
h́nh ảnh cụ thể chân thực, thân thiết nhất về một cánh chim rong
chơi không biết mỏi mệt giữa thú vui non nước điệp trùng. H́nh ảnh
này khắc họa sự không vướng kẹt vào t́nh đời, không bị ràng buộc bởi
thế gian lụy phiền như danh vọng quyền bính, không gian thời gian.
Tâm hồn thênh thang, không bị khống chế vùi dập trói buộc bởi cảm
xúc hay ảo ảnh trần gian này, là sự ḥa điệu nhất quán với phong
thái :
Trời đất liếc trông chừ
sao thênh thang
Chống gậy rong chơi chừ
phương ngoại phương
Hoặc cao cao chừ mây đỉnh núi
Hoặc sâu sâu chừ nước
trùng dương
(HTThanhTừdịch,TTTS
Ngữ lục, phóng cuồng ca)
Rơ ràng là một tâm hồn cuồng nhiệt, nhiệt thành,
mạnh mẽ, tự tin. Rồi nơi chốn ngao du không nơi chỗ ấy, một cách hào
khí, “giữa khung trời vạch một nét đường ngang, cuối góc biển chắn
một lằn lối dọc” Tại đây, con người du thủ,
con người phiêu bạt ấy âm thầm xác định, mỗi lần đến và đi, đều chỉ
là mỗi cuộc hành tŕnh của người khách độc hành, của những “sân ga
không đến không đi”, của “Bến xe không đỗ……cứ lững thững đến đi
nhưng không phải là nhà”ø, của “thuyền không xẻ nước”. Nên trong
từng cuộc hành tŕnh ấy, không cần ai chào ai vẫy, không hẹn không
thề, và chỉ cần rung khúc nhạc không tiếng, gảy cây đàn không dây mà
thôi ! Để cuối mỗi cuộc hành tŕnh, con người phiêu du tư lự với
chính ḿnh rằng, “cuộc đời tôi, một giấc mơ ! mượn thân hư huyễn
trôi bờ tử sinh. Cuộc đời tôi, một bóng h́nh ! mờ mờ nhạt nhạt lung
linh dặm trường”
Con người của tụ hội tất cả tiết khí chí dũng
nêu trên, ngao du trong bốn phương trời như cánh đại bàng vút đi
mạnh mẽ thế đó, nhưng thực ra, mỗi chuyến ra đi cũng chính là sự trở
về quấn quưt lấy rừng đước và tổ ấm ngày xưa. Con người du thủ ấy
thong dong tĩnh tại trong mỗi cuộc hành tŕnh, nhưng chính trong mỗi
cuộc rong chơi giữa bốn mùa đắp đổi ấy, đă chuẩn bị tư lương cho sự
trở về. Trở về để “khua âm vang khúc nhạc lên đường, ngân t́nh dài
muôn vạn yêu thương”, hay là “dùng t́nh thương làm một bản trường
ca, dùng hiểu biết làm nhịp cầu chuyển hóa” Để hoàn thành sứ mạng
chuyển tải t́nh thương này, người rong chơi không dám mơ mộng ǵ cao
xa, mà chỉ với Tâm nguyện b́nh thường là:
Tôi
xin vào trong ngơ kẹt
Nh́n trông mảnh tối cuộc đời
Tôi xin vào nẻo đơn côi
Nh́n trông những người cô độc
Tôi xin vào nơi hẻm hóc
Nh́n
trông cuộc sống âm u
Tôi xin vào chốn mịt mù
Nh́n
trông mảnh đời đau khổ
(Mặc Giang,
Đừng có măi hoàng hôn và đêm tối !)
Hai tiếng “Tôi xin”, nghe dễ thương qúa đi thôi
!!!, nó khác xa với “tôi sẽ” nhiều lắm chứ ! “Tôi xin”, hàm nghĩa là
tôi không cao vọng, không mơ ước, không thề thốt, không lên giọng,
và chỉ mong những ǵ tối thiểu nhất, đơn giản và khiêm tốn nhất. Chỉ
cần được vậy là tôi thỏa nguyện rồi, đời tôi không cần ǵ nữa. Đi
vào trong hẻm hóc, ngơ kẹt, nẻo đơn côi, hay chốn mịt mù ở đây,
chính là sự cảm thông sâu sắc, vỗ về, an ủi xót thương cho sựï gian
lao vất vả, kém may mắn, khốn khổ bất hạnh của những những mảnh đời
như: người mắt Cườm, người cùi, em bé mồ côi, thân phận người mù, em
bé nhà nghèo, em bé cơ cùng, người nghèo, người khuyết tật, người
câm, người điếc, người mù, người mua bán ve chai, người phu cầu
đường, người xây mộ, người tiều phu, người phu quét đường, người phu
khuân vác, người cạo mủ cao su, người phu hầm mỏ, người bán hàng
rong, người lính chiến, người nông dân, gia đ́nh bất hạnh,người phế
nhân, trẻ thơ quê nghèo khốn khó, miền quê, vùng sâu, miền nước mặn
đồng chua....
Những nỗi khổ niềm đau, ước vọng, buồn thương,
chán chường tủi nhục, hay những tâm sự về nỗi tuyệt vọng, tan nát ră
rời tự thầm kín đáy ḷng của những mảnh đời này đă được thể hiện rơ
nét sinh động dưới ng̣i bút của nhà thơ Mặc Giang. Mổ xẻ, phân tích
trạng thái tâm tư t́nh cảm của những nẻo đời thương tâm gian khổ,
kém may mắn, đắng cay, bất hạnh, nhưng tác giả dường như không phải
viết về họ, mà như đang viết về chính ḿnh. Do đó nên biết, không
phải ngẫu nhiên mà con người “cỡi rong rêu cùng vũ trụ đi hoang” này
lại thêm vào hai chữ “tôi là……”, hay “tôi mang thân phận……”. Như
nhan đề “người câm” với “tôi là một người câm”, hoặc “người mù” với
“tôi mang thân phận người mù ”, th́ ư nghĩa chuyển tải cách xa nhau
nhiều lắm! Đây là sự hóa thân đặc biệt tài t́nh. Nhờ đó mà tác giả
đă lột tả tận cùng ngơ ngách của những tâm hồn băng giá thê lương,
đă sống trọn vẹn, nhập cuộc với mỗi cảnh đời đau khổ. Và như thế,
mỗi một nẻo đời đều sẽ có cảm giác là thi nhân đang xót thương, chia
sẻ, đang an ủi vỗ về, hiểu biết cảm thông sâu sắc, và đang đối thoại
với chính ḿnh. Chắc chắn họ sẽ cảm thấy ấm ḷng hạnh phúc nhiều lắm,
v́ đă t́m được tri kỉ cho đời ḿnh. Đời chỉ cần một tri kỉ là đủ lắm
rồi !
Từ hướng sống thong dong tĩnh tại, tiêu dao
phóng khoáng, cảm thương mọi nẻo đời cô độc, đắng cay, bất hạnh,
khiến người du thủ từng có mặt trong những cuộc hành tŕnh vô tận ấy
chẳng màng ǵ cao xa, mà chỉ mong và làm những ǵ nhỏ nhoi tầm
thường b́nh dị nhất mà thôi. Con người phiêu bạt tự độc thoại với
ḿnh rằng:
Người đi cao vọng hơn thua
Tôi về nước mặn đồng chua lúa vàng
…
Người đi công toại bao nhiêu
Tôi
về tô vẽ nhiễu điều giá gương
Người đi cho thơa đường trường
Tôi
về ôm mộng b́nh thường t́nh quê
…
Người đi thơa chí hùng anh
Tôi
về vá viú mái tranh hoen mờ
(Mặc Giang, Hai nẻo cùng đường)
Tại đây, thêm một bước khẳng định tâm hồn hay
hướng sống của tác giả. Khi thiên hạ leo đồi vinh quang thành tựu,
tỏ mặt nở mày với đời, th́ Người từng xem danh lợi “quyền uy, ṃn đá
cụi cũng lung lay”, từng “ngao du cho hết cơi đời ” ấy chỉ cần trở
về ấp ủ nước mặn đồng chua quê nghèo, nâng niu bồi đắp t́nh thương
đồng loại (tô vẽ nhiễu điều giá gương), trân qúy t́nh quê. Rồi chỉ
“vá víu mái tranh hoen mờ” mà thôi. Ôi! ước nguyện, chủ trương khiêm
tốn đơn sơ nhưng rất đỗi cao sang! bởi hiếm ai làm nỗi, chẳng ai
chịu và thỏa măn cuộc đời “tôi xin muôn kiếp bóng h́nh nhỏ nhoi” ấy
cả.
Sở dĩ phát nguyện và làm nỗi những dung dị
b́nh thường nhưng phi thường, là v́ “Người về” cảm thấy: “đi—về, một
vạch nối liền, về—đi, không cách có phiền ngại chi. Người đi và tôi
về chỉ trên cùng một trục lộ thẳng tắp, chạy dài đến tận cùng không
gian và thời gian. Rồi sẽ gặp nhau đâu đó trên quê hương muôn thuở.
Cũng là bởi cảm nhận sâu sắc rằng, “sá ǵ kẻ ở người đi, đa mang như
thế, tuyệt kỳ nghe chưa.” Bấy giờ trên phố xá hoa lệ, hay trên đường
quê nghèo sỏi đá quanh co, con người đi hay về đều tự tại thong dong
ấy ngỏ lời nhắn gởi bội phần thống thiết :
Tôi
muốn nh́n bóng đèn mờ le lói
Để
thấy những vùng heo hút âm u
Những
bản làng sương gió mịt mù
Sống
lây lất như thời xưa hoang dại
……Tôi
nhắm mắt để nghe trong tiếng khóc
Của
những con người mỏi mắt kêu thương
Của
những con người trong cảnh thê lương
Thử đến đó làm sao ta
sống nỗi !
(Mặc Giang, tôi nhắm mắt thu ḿnh căn gác nhỏ)
Đó là những ǵ thấy được và nghe được từ trong
rung động của con người phiêu bạt khi thu ḿnh căn gác nhỏ.
Cái nh́n cái nghe bằng linh cảm linh tri của cội nguồn chiều sâu tâm
thức này, hoàn toàn ḥa nhịp với mỗi bước chân đơn côi, mỗi hơi thở
nặng nề, mỗi ánh mắt mỏi ṃn trông đợi ngày mai của con người trong
những bản làng sương gió mịt mù, của những con người trong cảnh
thê lương. Trong lần hội ngộ không hạn cuộc thời không này, Mặc
GIang giả có nói chi với con người khốn khó đói nghèo ấy đâu, mà chỉ
th́ thầm tâm sự : “tôi muốn về thăm lại quê xưa, ngồi yên đâu đó một
chiều mưa, để nghe quạnh quẽ hồn cô lữ, lệ sử điêu tàn gởi giọt mưa.
Chẳng biết lúc nào, người lữ khách độc hành ấy
đă tự khẳng định giá trị của giọt thương trong cơi phù sinh, là “lệ
sử điêu tàn gởi giọt mưa”. Nước mắt khóc cho những cảnh đời hẩm hiu
của tôi là những giọt khô lăn dài trên ḍng sử Việt, chảy dài đến
tận ngày mai. Nó tuy tan tụ mong manh, nhưng lại như mưa móc tưới
tẩm cho bao buồn bă, đau thương trên những ruộng tâm ê chề nát tan.
Khi đă xác định được những giá trị thường hằng
trong cơi vô thường ấy, th́ tác giả chỉ lập nguyện trong từ tốn
khiêm cung:
…
Không như cây lá sum xuê
Th́ làm hoa dại mân mê lối
ṃn
…Không như tàu lớn ra khơi
Th́ như thuyền nhỏ đưa người
qua sông
(Mặc Giang, Khôn chết, dại chết, biết sống)
Hễ mang lại lợi ích thiết thực cho đời, cho dù chỉ
là những ǵ tầm thường nhỏ nhặt nhất, th́ con người đầy chí khí này
vẫn người t́nh nguyện tiên phong, chứ không chịu ngồi ṿng tay. Rơ
ràng Mặc Giang không để thẹn với non sông, xấu hổ là con cháu Lạc
Hồng, v́ không xứng danh với tiết tháo của quân tử trượng phu, là
làm trai chí hướng xông trời đất. Do đây, trong con người đi
thênh thang trên hành tŕnh du thủ trong thế giới ba ngàn này, lại
chấp nhận một cách thật dễ thương:
Người
vào Hoa tạng người chơi
Ta
vào sinh thử cho đời bớt đau
……Người
thương cây cỏ lá hoa
Ta
thương bốn loại trong nhà thê lương
Người
thương diệu hữu chơn thường
Ta
thương muôn vật trên đường phù sinh
(Mặc Giang,
Ta đi, một cơi phù sinh hiện về)
Trong cơi không, cơi vô sắc, Người làm việc của
Người. Trong cơi hữu sắc, tôi làm việc của tôi. Chỉ đơn giản và âm
thầm thế thôi. Tại đây, ta càng thấy, th́ ra, con người phóng khoáng
dọc ngang trời đất, tưởng như thờ ơ quay lưng với đời ấy, lại t́nh
nguyện đi hun hút giữa gió chướng mây ngàn, để mang yêu thương đến
với tận cùng ngơ ngách đời khốn khổ đau thương. Từ đó, giữa không
gian bao la và thời gian vô cùng, chúng ta bất chợt bắt gặp h́nh ảnh
:
Cây đa c̣n đứng đầu đ́nh
Cành
mai trước ngơ nghiêng ḿnh trổ bông
(Mặc Giang, Ta
đi, một cơi phù sinh hiện về)
Cũng chỉ tại những ǵ “tôi” làm trong cơi hữu h́nh
này tuy không như “Người”, nhưng chính động cơ tác ư của hành động,
đă nói hộ rằng, tôi và Người đâu phải hai thể riêng nhau, mà chỉ là
một. Là một quan hệ “hai chiều chạy dọc bờ đê, ḍng sông chuyển hóa
chưa hề tồn sinh.” Cho nên, một cách tự nhiên, trong im lặng của
trời đất, trong sự chuyển giao vần vũ của bốn mùa và càn khôn vạn
hữu, đă xuất hiện h́nh ảnh “nghiêng ḿnh” của cành mai.
Mai là biểu tượng của tinh anh thuần khiết và
chí dũng, dám ngạo nghễ tự hào khoe ḿnh trước giang sơn mỗi khi
đông về hay hạ đến. Và cố nhiên khi trổ bông, th́ càng làm cho chim
sa cá lặn, nhật nguyệt thẩn thờ. Thế mà bây giờ ngay cảnh khi khai
hoa, nó đành phải khiêm cung“nghiêng ḿnh”. Đây là do đâu? v́
cành mai đă thẩm thấu được điểm khác biệt nhưng lại đồng nhất giữa
Người và tôi, phải vậy chăng ! Nếu “tôi” nói không đúng th́ xin đừng
tiếc lời, hăy chỉnh sữa lại giúp.
Nói tóm, qua một số câu thơ nổi bật của Mặc
Giang, chúng ta thấy rơ phong cách và hướng sống đặc biệt của nhà
thơ. Đó là sự không cố chấp, xem khắp nơi đều là quán trọ, xem
thường những danh lợi phù phiếm, b́nh thản bất động trước khen chê
đăi bôi của người đời, tiêu dao phóng khoáng giữa non nước mây ngàn,
quan tâm cảm thông thân thiết những mảnh đời bất hạnh, lập nguyện
cống hiến cho con người và xă hội những ǵ ḿnh có thể, cho dù chỉ
đơn giản và nhỏ nhoi nhất… Đó là sự tương giao hài ḥa đặc biệt giữa
giữa t́nh và lí, giữa hữu hạn và vô hạn, giữa h́nh thể và phi h́nh
thể. Phong cách và hướng sống b́nh dị nhưng cao thượng, viên dung và
siêu việt này, ảnh hưởng mạnh mẽ đến những tâm hồn sâu lắng biết suy
tư của người Việt Nam. Và đương nhiên, tư tưởng lớn đâu chịu dừng
lại ở đây. C̣n thao thức ṿ vơ và vạch cho con người Việt Nam phương
cách hành xử cụ thể.
3.
Quê hương nguồn cội
Cải tạo cuộc đời hay nhân sinh, là khiến hành
xử t́nh người trở nên lương tri thánh thiện, nhằm kiến tạo một xă
hội an bằng tốt đẹp hơn. Nói cách khác, ư nghĩa việc cải tạo cuộc
đời chính là mở ra cho thời đại một hướng đi mới, không c̣n nhẫn tâm
dẫm trên những bất thiện từ thô đến tế. Chúng là lối ṃn cố hữu. Đă
từng khiến bao lớp con cháu Tiên Rồng thống khổ nhưng vẫn không chịu
dừng bước. Về phương diện này, Mặc Giang có những ḍng thơ với nội
dung có ư nghĩa triết lí sâu sắc cô đọng, có sức mạnh chinh phục cảm
hóa ḷng người hơn bao giờ cả. Nên hiểu, cuộc đời hay thời đại mà
nhà thơ Mặc Giang nhắm chuyển hóa ở đây, là người Việt Nam (người
cùng da vàng và cùng chung tiếng nói )
Liên quan đến ư thức hệ đầu tiên được h́nh
thành qua yêu thương trân quưnguồn mạch ṇi giống, nên thơ Mặc Giang
có giá trị ư hướng kiến lập đạo đức chân chính, chủ yếu là cho người
Việt Nam. Đó đó là ư thức sâu sắc thâm thiết về hai mối đại quan hệ,
là giữa nhà thơ với hơn tám mươi triệu người Việt Nam, giữa mọi
người Việt Nam với nhau.
Đầu tiên, do Mặc Giang luôn mang những ư thức
và rung động sâu xa về nguồn cội Việt Nam. Do đó, trong những thi
phẩm tuyệt tác nói về đất nước Việt Nam ṇi giống Tiên Rồng qua năm
ngàn năm lịch sử oai hùng, Mặc Giang thường biểu hiện một tâm trạng
vừa tự hào nhưng lại vừa tủi nhục, vừa sung sướng nhưng lại vừa đau
nhức, vừa trầm ngâm nhưng lại vừa hùng tráng.… H́nh bóng và chất
liệu quê hương Việt Nam, hậu duệ của Hùng vương Văn Lang, không biết
tự thuở nào, đă trở thành tiền đề, thành chất xúc tác để ông sống,
hành động và lên tiếng.
Ư thức về nguồn cội Việt Nam, cũng chính là xác
định mối quan hệ giữa con người Việt Nam. Trong Quê hương nguồn cội,
Mặc Giang âm thầm nhắn gởi nhắc nhủ cho đàn em mai sau :
Em
sinh tại quê hương, tôi sinh vùng đất khách
Dù xa xôi cách biệt, nhưng
là người Việt nam
Em máu đỏ da vàng, nh́n tôi
đâu có khác
Tóc em đen óng mượt, tóc
tôi chẳng lạ ǵ
Cảm động biết bao! Tảc giả khẳng định, không gian
ngăn cách nào có nghĩa ǵ đâu. Có ngăn cách ǵ đi nữa, cũng không
ngăn được t́nh người Việt nam không biên giới. Tại đây, Mặc Giang âm
thầm nhắn gởi rằng, dù mặt em có biến dạng bởi những vết sẹo, nám
xịt bởi phong trần bao nhiêu đi nữa, th́ tôi vẫn măi nhận ra em. Vừa
nh́n từ xa trong mưa gió mù khơi, tôi cũng nhận ra em ngay. Cho dù
ra đi giáp mặt cuộc đời trong muôn nẻo ngàn phương, nhưng chúng ta
vẫn đồng cùng một nguồn cội. Không ǵ có thể thay đổi mối quan hệ
của chúng ta. Tất cả đều mang trong ḿnh giọt máu của một Mẹ Âu. Tác
giả Mặc Giang c̣n muốn giải thích thêm cho đàn em là :
Cùng
con cháu vua Hùng, à! th́ ra chỉ một
Nh́n chữ S cong cong,
Sao nghe đau vời vợi
Tôi từng nghe tiếng gọi,
dân tộc Việt yêu thương
Dù xa cách dặm trường,
t́nh yêu thương chỉ một
Giang sơn gấm vóc chúng ta đă bồi đắp biết bao mồ
hôi xương máu của các cha anh từ thuở dựng nước cho đến hôm nay.
“Một nắm xương khô nghe ḷng da diết, một giọt máu đào thấm nhuận
non sông”, cho nên “một mảnh dư đồ chữ S cong cong, là tinh hoa tiết
liệt qua nhiều thời đại. Năm ngàn năm lịch sử nhục vinh thành bại,
đă biết bao lần chất chồng xương núi máu sông. Do vậy, nh́n giang
sơn một cách ư thức và sâu sắc, th́ chúng ta càng tự hào bao nhiêu,
lại càng nhức nhối, đau vời vợi bấy nhiêu. Chỉ chừng ấy thôi,
không cần giải thích phân tích, cũng đủ cho ai cũng thấy biết được ư
thức hệ về t́nh quê hương t́nh dân tộc của Mặc Giang. Nhà thơ đă mở
ra cho chúng ta lối về quê hương nguồn cội chỉ có một mà thôi. Đó là
lối về của yêu thương, yêu thương vô điều kiện, không mang tính tạc
thù ước lệ, không đ̣i hỏi yêu sách bất ḱ điều ǵ. Chỉ cần gặp nhau
cho dù chưa từng quen biết, chúng ta cũng có thể ôm choàng lấy nhau
mà khóc, rồi cùng nhau ôn lại “ḍng lịch sử c̣n rung thời tiết đọng,
Thuở dựng cờ, khai tổ quốc giang san”, kế đến cùng khóc cười mà hát
điệp khúc : “t́nh quê ca khúc nẻo đường, em reo ca khúc quê hương
muôn đời ”
Nhà thơ c̣n đưa chúng ta hiểu sâu rằng, tự
hào và niềm đau vốn đan xen trong nhau, trong nụ cười đăù có những
giọt nước mắt canh thâu. Bởi :
Nh́n quê hương anh nghe nhiều cay đắng
Nh́n
cội nguồn tôi thấm những niềm đau
……Mẹ
nằm đó, mặt lệ nḥa, không nói
Cha trầm ngâm trắng phếu bạc mái đầu
(Mặc Giang Sông bến cũ, mái nhà xưa ấm
lạnh)
Niềm cay đắng của anh, nỗi đau thương của tôi,
nḥa lệ trong im lặng của Mẹ và dáng điệu trầm ngâm bạc đầu của Cha,
đều là cùng trầm thống về quê hương, về con người Việt Nam cùng
chung máu đỏ da vàng, cùng tránh phong ba qua vách chắn của Trường
Sơn, cùng uống nguồn nước ngọt lịm của Thái B́nh. Nhưng tại sao Mẹ
Cha Âu Lạc lại buồn đau khi đất nước đă có một lịch sử oai hùng năm
ngàn năm, có đàn con cháu đề huề sinh ra từ một bọc? Phải chăng v́
đàn con của Mẹ ứng xử với nhau theo cách mà Mẹ không muốn, theo cách
mà cha nào có dạy bao giờ.
Cùng ḍng sữa Mẹ dưỡng nuôi, cùng tiếng ru hời
Cha ấp ủ, lí đáng người con Việt Nam hiểu và thực thi lời ca dao của
cha ông để lại :“nhiễu điều phủ lấy giá gương, người trong một nước
phải thương nhau cùng, bầu ơi thương lấy bí cùng, tuy rằng khác
giống nhưng chung một giàn”. Cũng c̣n chưa đủ, mà c̣n nên hiểu thêm:
Anh và tôi, đâu phải
người xa lạ
Dù không quen, cũng
gợi cảm t́nh người
Huống chi cùng sữa mẹ
dưỡng nuôi
Sao để mẹ bạc đầu,
không nói
Tiếng hồn thiêng, âm
thầm khẻ gọi
Bước chân về bên cội
rừng xưa
Tay nắm bàn tay, đừng
nói, dư thừa !!!
Đưa mắt nh́n nhau
ngậm ngùi ứa lệ
(Mặc Giang, Cuốn mộ bờ lau,
bụi mờ bỏ lại)
Phải hành xử, phải ńn nhau như thế, mới xứng danh
là con của Mẹ, là niềm hi vọng của Cha. Bởi con đă thật sự thẩm thấu
được âm ba của “gió lộng Trường Sơn núi rừng hùng vĩ, sóng bạc Thái
B́nh biển cả mêng mông”. C̣n minh chứng hùng hồn rằng, con rất sợ
cái cảnh “tiếng khóc quê hương tê tỉ ruộng đồng, tóc mẹ trắng, xơa
chiều dài lịch sử.” Thế nhưng giờ đa phần các con sống ngược lại,
không có dễ thương với nhau. Các con không những không “cùng dắt
nhau về ngưỡng cửa yêu thương, cùng lắng nhau nghe hai tiếng nhiễu
điều”, rồi “đưa mắt nh́n nhau ngậm ngùi ứa lệ”, mà c̣n phản bội Mẹ,
phụ bạc Cha. Quên mất nghĩa núi t́nh sông, các con của Mẹ tệ bạc với
nhau nhiều lắm. Các con :
Đường cao rộng, lại đi về ngơ tắt
Lối
thênh thang lại cắt xẻ dọc ngang
(Mặc Giang An b́nh ơi, ngươi trốn mất ở đâu
)
Gia tài của mẹ để lại cho chúng ta đồ sộ lắm. Đó
là một Việt nam, là con đường cao rộng của t́nh thương, là lối thênh
thang của t́nh người. Là con đường quang minh chính đại, nẻo về của
sự sống và vun bồi t́nh quê muôn thuở. Nhưng đau ḷng thay ! rất
nhiều trong số con mẹ không chịu đi trên đường rộng sáng, mà lại láo
liếng trốn nhủi trốn chui trong bóng tối của ngơ tắt của chia rẽ hận
thù. Rồi “cùng phun ra những chất độc hung tàn.” Cái hung tàn này là
bước rẽ lối quanh co, trớ trêu. Các con hành xử theo kiểu: “cái chân
thật biến giữa ngàn quan ải, cái giả danh, lại phóng bổng trời xanh,…
cái thiện mỹ, chận, rào, ngay ngoài ngơ, cái tạp ô, lại mời gọi vô
nhà”. Và nghiệt ngă hơn nữa là, không ai bảo ai, chẳng ai hẹn ai, mà
lại cùng nhau không khác. Nên bậc Thánh hiền đau ḷng lằm khi than:
“trần gian chật hẹp người chen lấn, Tịnh đôï thênh thang hiếm kẻ t́m”.
Trần gian là biển sinh tử giập vùi, khổ lụy ê chề, là trái đắng năo
nuột, nhưng nào mấy ai chê. Cứ chui rúc dành nhau sống và mang đau
khổ cho nhau. Cơi tịnh độ, hay chính những phương trời cao rộng, an
lành, ḥa vui, mà mấy ai đoái hoài. Thảo nào nhạc sĩ Trịnh Công Sơn
cũng đă nói “bao nhiêu năm rồi c̣n măi ra đi, đi đâu loanh quanh cho
đời mỏi mệt……”. Đi loanh quanh ṿng vo trên con đường ganh ghét hờn
căm, mà đi măi như thế th́ mỏi mệt lắm chứ ! nhưng phần nhiều ai
cũng xung phong! Rứa mới là nghịch đời chứ! Bất giác, nào có hay sự
xoay vần của nhật nguyệt, hồn thiêng cội nguồn Việt Nam, vốn trinh
nguyên chưa hoen ố sắc màu. Con của mẹ, con của đất nước ngàn năm
văn vật, đă không đi tiếp con đường mang linh hồn của Mẹ, có h́nh
bóng và nỗi niềm của Cha. Đi ngơ tắt, về ngơ hẽm quanh co như thế,
cũng tại “ bỡi trần thế, ngửa nghiêng ḍng uế trược, bỡi nhân t́nh,
lặn hụp bến sông mê”
Mặc Giang c̣n đau ḷng hơn nữa, là khi các
con của Mẹ v́ “chữ đức nhân đă mờ mịt trước đèn, chữ quân tử rải lên
thềm băng giá”, nên thậm chí cố t́nh làm cho “đứt phanh tuột đà”.
Trong “Máu chảy về tim, rung ḷng nhân thế”, tác giả viết :
Chiều rũ bóng, rừng già ru cỏ dại
Bờ lau lách, ao tù, reo
ếch nhái
……Trong ngơ tối, “dế mèn
phiêu lưu kí”
Vạn vật gườm nhau, tha hồ
đố kị
……T́nh nhân thế, “ngàn cân
treo sợi tóc”
Qủa là h́nh sắc âm thanh buồn mênh mang, năo nuột.
Nỗi buồn da diết và ghê rợn nhất trong màn đêm dày đặc, làm nát tan
vụn vỡ không gian, là h́nh ảnh “dế mèn phiêu lưu kí”, là “vạn vật
gườm nhau”, rồi “ tha hồ đố kị”. Có bóng tối, th́ chúng xuất hiện.
Hễ những thứ này xuất hiện, là báo hiệu bóng đêm đă phủ mờ trong
sương pha giá lạnh. Hai h́nh ảnh này rất tự nhiên, đă có trong nhau
tự thuở nào. Từ đó, tạo nên cảnh trạng nín thở “ngàn cân treo sợi
tóc” của t́nh nhân thế. H́nh ảnh này, phải chăng tác giả đă gián
tiếp tế nhị kín đáo chỉ ra, chính là cái trạng huống“say quyền lực,
đắp bạo tàn nhũng lạm. Mị dân t́nh, be tham vọng hư vinh. Ai chết
mặc ai, miễn không đả động tới ḿnh” của bao người anh em Việt nam.
Nếu qủa có cảnh “nồi da xáo thịt” như vậy, th́ hỡi ôi, c̣n ǵ đau
đớn hơn ! Thật “thương cho em có trái tim không dám thở” . Xót xa
cho em “Miệng ngậm câm dù ḷng có vạn lời”. Người ta “sống mà máu
nóng đă phai”. Nhưng nào có biết, nếu vậy th́ “chết đi máu lạnh
tuyền đài đem phơi.”
Xót xa buồn tủi cho những nhân t́nh đắng cay,
Mặc Giang thống thiết kêu gọi, này anh em, này chú bác…, nếu vậy th́
quả là “uổng không một kiếp phù sinh, c̣n thua gỗ đá trêu ḿnh thế
nhân”. Đôi lúc Mặc Giang c̣n thấy, những người anh em chỉ c̣n sống
trong xót xa của “trần gian c̣n chút đỡ đần, trơ trơ như phỗng lựa
lần mà tru !!!” Đây chính là niềm đau khôn nguôi, khiến Mặc Giang
thao thức trằn trọc bâng khuâng. 60 ngày đêm liền không ngủ. Khi bạn
mất, Nguyễn Khuyến nói “rượu ngon không có bạn hiền. Không mua,
không phải không tiền, không mua”. Nay Mặc Giang không ngủ, là v́
trầm tư trước sự vùi dập rách nát loang lỗ hoang tàn của quê hương,
chứ không phải không ngủ v́ bị mất ngủ. Trong bài “kỉ niệm 60 đêm
không ngủ”, ông viết :
Ngọn hải đăng cho tàu về bến cảng
Ngọn sao đêm cho trời bớt
âm u
Ngọn đèn pha cho sáng tỏa
mịt mù
Để làm chi mà sao tôi
cũng có
Không phải không có lư do khi ông đưa ra ba h́nh
ảnh với ba công năng, rồi đi đến kết thúc khổ thơ bằng câu “Để làm
chi mà sao tôi cũng có”. Đă âm thầm xác định nguyên nhân việc không
ngủ. Cũng chính là ư thức danh phận và trách nhiệm của ḿnh trong
cuộc đời, đặc biệt là trong cuộc đời đảo lộn khùng điên. Hay đó cũng
chính là cái hùng dũng nghĩa khí mà Nguyễn Khuyến đă từng phát biểu:
“đă mang tiếng ở trong trời đất, phải có danh ǵ với núi sông”. Nếu
không có cái nghĩa khí đó, th́ làm sao Mặc Giang lại tiếp:
…Hai ngọn đèn không
cần phải châm dầu
Sáu mươi đêm cháy hoài
không muốn tắt
…Tôi nằm yên, nghe đến
từng hơi thở
Tôi đăm chiêu, nghe
mềm cơi tâm tư
Điều giá trị ở đây là hiện tượng “không muốn tắt”
của hai ngọn đèn, cho dù đă cháy đăng đẳng sáu mươi đêm. Ấn tượng
mạnh ở đây là “mềm cơi tâm tư” trong sáu mươi đêm. Trong cảnh này,
“không muốn tắt” và “mềm cơi tâm tư” là một quan hệ hệ qủa hai chiều.
Sáu mươi đêm không ngủ, mang nặng h́nh của nước. Hai tháng trời thức
trắng, mang nỗi niềm mặn đắng trên môi. Cũng có ư nghĩa lắm khi Mặc
Giang đặt tựa đề bài thơ là“60 đêm không ngủ”. Không ngủ với mất
ngủ, nội dung khác nhau xa lắm chứ !
Rồi từ đó, những ḍng thơ tràn ngập triết lí
sống và dạt dào t́nh thương, đă thâm thiết mở ra cho đồng bào Việt
nam lối về t́nh quê muôn thuở. Đó là linh hồn của ngọn hải đăng,
ngọn đèn trung thành thức trọn 60 đêm với ông trong trầm tư mặc
tưởng. Với hi vọng tổ tiên có thể mỉm cười với sử xanh, với lúa vàng
đồng nội, với ḍng sông quê lỡ bồi phù sa, với “mọi nẻo hương quê,
rung hồn lệ sử”.
Ai cũng biết đau thương, nhưng nào có mấy ai
biết đi đúng hướng để hàn gắn đau thương. Mặc Giang đă chỉ cho chúng
về nẻo yêu thương :
Cùng sống
trong một cơi trần gian
Sao không xây t́nh thương và sự
sống
Mang từ tâm, xóa tan đi bao biến
động
Mang tâm bi, trang trải những
yêu thương
(Mặc Giang, tiếng gọi yêu thương )
Chủ ư nhà thơ là, chúng ta là con người, là con
cùng một bọc trứng mẹ Âu sinh ra, không có lí do ǵ để chúng ta
không yêu thương đồng loại. Không có ư do ǵ để “cùng một ḍng máu
sao mà tệ bạc? Cùng một màu da sao nỡ can tâm?” Tại đây, Mặc Giang
cho chúng ta thấy, là con người, th́ không thể sống thiếu nhau. Cỏ
cây vô t́nh cũng cần bàn tay chăm sóc của con người, mới tốt tươi
xanh um. Cụ Trịnh Công Sơn có lời ca :
Mưa vẫn
mưa bay cho đời biến động
Làm sao em biết bia đá không
đau ?
Xin hăy cho mưa qua miền đất
rộng
Ngày sau sỏi đá cũng cần có
nhau
Vâng, hăy trang trải t́nh thương khắp vạn hữu.
Ngay sỏi đá cũng cần có t́nh thương . Nó đâu phải vô t́nh. Nó cũng
biết đau như ai. Nó cũng cần có nhau. Giữa chúng có mối tương quan
mật thiết. Giữa con người, cũng là một quan hệ tương sinh phức tạp,
tế nhị: “V́ trông ngày, nên đêm dài đến rứa. Nếu không đêm, ngày có
nghĩa ǵ đâu”. Trong tôi có anh, trong anh có tôi. Anh và tôi uống
cùng sữa Mẹ Âu Cơ. Thế mà tại sao anh và tôi lại nhẫn tâm chà đạp
vùi dập nhau. Anh hăm hại tôi, th́ chẳng phải anh cũng không thể
sống c̣n đó hay sao???ù. Anh yêu thương trân quư tôi, th́ chính anh
cũng đang vun bồi cho cây an b́nh hạnh phúc của anh đó mà thôi. Hỡi
người anh em thân yêu của tôi ơi !
Xác định sâu sắc giá trị và nhu yếu t́nh
thương của hết thảy vạn loại, trong “Bước qua ngưỡng cửa dị đồng”,
Mặc Giang hướng dẫn chúng ta đường đến cùng tận đầu nguồn t́nh
thương, là “bằng thân thiện, để cùng nhau nương tựa. Bằng nhịp cầu,
để nối kết cảm thông.” Thân thiện và cảm thông, mới là chất liệu để
chúng ta tiếp bước trên :
Ḍng lịch
sử, muôn đời, ta chung sống
Hồn quê hương, muôn thuở ta đắp
xây
T́nh anh em, măi măi, ta tiếp
tay
T́nh dân tộc, ngàn đời, không
lay chuyển
(Mặc Giang, ta bước đi trên quê hương ta)
Có một lịch sử oai hùng, hồn quê hương ngọt ngào
đường mía lau như thế, th́ anh em chị em phải đắp xây. Phải “tay
trong tay, t́nh trong t́nh, máu trong máu”, để t́nh dân tộc ngàn đời
không lay chuyển. Một nhạc sĩ nào đó viết về quê hương cũng khá cảm
động “…… quê hương, mỗi người chỉ một, như là chỉ một mẹ thôi, quê
hương nếu ai không hiểu, sẽ không lớn nỗi thành người.” Không hiểu,
có nghĩa là không biết trân quư, xây dựng t́nh đồng loại, để “cho
vạn vật nhân sinh ḥa điệu sống.” Vậy th́ thành thân mà không thành
danh, thành khí mà không thành chất, thành hư mà không thành thực.
Ư thức, tự hào về ḍng giống Rồng Tiên cao qúy,
xác định trách nhiệm với quê hương ṇi giống, cũng chính là lúc mỗi
chúng ta ư thức về sự có mặt trên cuộc đời là: “kiếp nhân sinh không
nỡ tạc thù chiếu lệ, kiếp con người không lẽ sống chết th́ xong”. Mà
phải trang trải t́nh người, phải thay đổi cách hành xử với người anh
em cùng Mẹ. Phải “đừng đem thương ghét chận đường thế nhân.” Để giúp
sống cho ra sống, để cuộc sinh tử có “chút ǵ c̣n để cho nhau”. Nhà
thơ Mặc Giang thêm lần nữa thống thiết nhắc nhủ đàn em:
Rồi
một mai, cũng lăn vào cơi chết
Cọp
để da, người để tiếng chiêm bao
(Mặc Giang, Nhân sinh tự thán)
Người xưa nói : “trăm nay bia đá th́ ṃn, ngàn năm
bia miệng vẫn c̣n trơ trơ.” Là cái hướng để con người sống và hành
động. Nếu sống mà phản bội quê hương ṇi giống, ghét ganh thù hận,
đăi bôi đâm thọc, nguyền rủa mắng nhiếc, vu khống hăm hại, bán đứng
bán ngồi danh giá người khác…, th́ chết rồi sẽ “làm đau cho cát bụi
hư hao, và làm đau cho sương pha giá lạnh”. Ôi ! c̣n ǵ nhức nhối
hơn thế nữa !
Mặc Giang chân thành thiết tha kêu gọi tám
mươi triệu đồng bào ruột thịt anh em, ngay bây giờ hăy xây dựng lập
trường và hướng sống đích thực là:
V́
con người, nếu ta c̣n nước mắt
V́
nhân sinh, nếu ta c̣n chút tư lương
Nước
mắt kia xin nối lại t́nh thương
Máu
chảy về tim, rung ḷng nhân thế!!!
(Mặc Giang Máu chảy về tim, rung
ḷng nhân thế!!!)
“Máu chảy về tim”, lá rụng về cội, nước đổ về
nguồn, vừa là cái lẽ tất yếu, vừ làm lời khuyên thống thiết của nhà
thơ. Cho dù sống đến tàn hơi cuối cùng, cũng phải sống v́ con người,
v́ nhân sinh.Bấy giờ chúng ta sẽ “cùng bước chân, đừng có nói năng
ǵ. Ta sẽ nghe sóng ḷng rơi biển mặn. Tan hết rồi những niềm đau
cay đắng”. Vậy, không qúa muộn màng để sữa một lỗi lầm. Chỉ cần “anh
hăy quay đầu” th́ lập tức “bóng tối ch́m sâu”. C̣n tôi ư ? “tôi cuốn
một bờ lau, bụi mờ bỏ lại”. Xong, chúng ta cùng “dệt nên một mái,
bếp lửa nhà tranh. Em, tôi và anh. Ngọn lửa thêm hồng, Việt Nam trời
đông, quê hương ta đó !!!”.C̣n không, th́ anh nên nhớ : “một lỡ bước,
gieo vạn sầu thế kỉ ” đó nghe, người anh em!
Thơ Mặc Giang c̣n có ư, nếu anh em ḥa vui,
quên hận thù, là cũng đang sống cho người đă chết, v́ người đă mất.
Chiều nay, thắp nén nhang trên án thờ Hùng Vương, đặt nhành hoa lên
bia liệt vị anh hùng đă nằm xuống v́ tổ quốc. Ta nghe đau nhói hơn
bao giờ cả. Sẽ thấy máu của tổ tiên vẫn c̣n thắm đỏ Thái B́nh, xương
thịt cha anh măi bồi đắp ngọn Trường Sơn thêm hùng vĩ. Anh em nh́n
nhau, gạt ḍng lệ nóng. Tạ tội với Mẹ Cha. Con là đứa con bất hiếu!
đă từng làm mẹ khổ đau, làm cha nhức nhối. Hứa rằng, từ nay chúng
con sẽ không c̣n khiến “Thành Hoàng rủ mặt buồn không nói, tượng đá
trơ trơ lặng lẽ nh́n” v́ cái lỗi “găy một nhịp cầu sa bóng nước,
sóng tràn loang lở mấy bờ đê” của chúng con nữa. Theo Mặc Giang,
những nghĩa cử này là sức mạnh để ta sống cho ra lẽ, sống cho tổ
tiên qúa cố. Cũng nhờ vậy, mà chúng ta biết nâng niu trân qúy từng
dải đất ngọn núi quê hương. Từ đây, ta t́nh nguyện “xin cho nhau nụ
cười, đă gượng gạo từ lâu.” Nụ cười tô thắm t́nh thân, có sức mạnh
mở ra cho ḍng sử Việt trang sách mới.
Nh́n chung, ư thức cải tạo cuộc đời, hay nỗi
niềm quê hương của thi hào Mặc Giang, là sự liên quán từ niềm tự hào
con cháu Lạc Hồng, xác định mối quan hệ giữa những cá thể, xót xa
lỗi lầm của nhân thế, vạch ra cho thế hệ đàn em hướng sống. Đây là
một qúa tŕnh. Qúa tŕnh này được xuyên suốt bằng sợi chỉ của t́nh
thương yêu cao thượng và trí huệ đặc thù.
Tạm thay lời kết :
Tư tưởng và triết lư, vốn không
mang tính thi ca. Nhưng thi ca của bút lực vô song, làm thơ mà như
không làm, lại mang tư tưởng và triết lư sâu xa. Xây dựng giá trị tư
tưởng, ư hướng phục vụ cuộc đời từ một nhân sinh quan tuyệt diệu,
một hướng sống tích cực sáng chói, một ư hướng cải tạo cuộc sống qua
thi ca, Mặc Giang đă thành công rực rỡ. Cả ba yếu tố này vừa là tiền
đề, vừa là kết qủa, thống nhất và bổ sung lẫn nhau. Bề dày, bề ngang
và chiều dọc của tính triết lí và giá trị nhân bản, cố nhiên là càng
phải nghiêng ḿnh! Có ư kiến cho rằng “mỗi tư tưởng của một nhà thơ
chắc chắn chứa đựng tiềm năng vô cùng trọng đại, như năng lực tiềm
ẩn trong một cục than đá hay một tế bào sống, vô cùng vi tế, không
thể cân lường, nhưng thật sự hùng mạnh” (Ouspensky, “Tertium
Organum”, trang 125) . Chẳng lạ ǵ khi trong bài “xin
đừng nghĩ”, Mặc Giang viết:
Một câu thơ, mà c̣n hơn
triều sóng,
Một ng̣i bút, mà hơn cả
trống chiêng,
Một lời thơ, trăng sao c̣n
lấp lánh
Một ư thơ, rung động cả
thiên thu |