Quê Hương Vit Nam Mến Yêu

                       

 

 

Sài G̣n

ĐỊA LƯ

Diện tích: 2.985 km2.
Dân số (2004): 5.385.454 người.
Các quận: 1, 2, 3, 4, 5, 6, 7, 8, 9,10, 11, 12, Tân B́nh, Tân Phú, B́nh Thạnh, Phú Nhuận, Thủ Đức, G̣ Vấp, B́nh Tân.
Các huyện: Nhà Bè, Cần Giờ, Hóc Môn, Củ Chi, B́nh Chánh.

Lănh thổ thành phố Sài G̣n có tọa độ địa lư 10 độ 22'13" - 11 độ 22'17" vĩ độ bắc và 160 độ 01'25" - 107 độ 01'10" kinh độ đông. Trung tâm thành phố cách Hà Nội 1.730 km (1081 miles) đường chim bay. Thành phố có 15 km (9 miles) bờ biển.

Thành phố Sài G̣n được thành lập trên một vùng đất có nhiều sông ng̣i, kinh rạch và phát triển thành một đô thị lớn nhưng vẫn c̣n dấu vết của sông ng̣i cũ, qua những địa danh đă trở thành quen thuộc.

Sông chính của thành phố là sông Sài G̣n, chảy qua tỉnh B́nh Dương xuống Gia Định, rồi chảy sát phía Đông làm ranh giới với tỉnh. Những con sông và kinh rạch đáng kể là sông Thị Nghè (phụ lưu của sông Sài G̣n), kinh Đôi, kinh Hành Bàng, kinh Bến Nghé, rạch Cát, kinh Ruột Ngựa, (Mă Trường Giang) rạch Cầu Ông Lănh, rạch Ḷ Gốm, rạch Cầu Kiệu, rạch Ông Buông, kinh Tàu Hủ...

Về nguồn gốc tên sông Thị Nghè, ta có hai tuyến khác nhau: Thứ nhất Bà Nguyễn Thị Khánh, con gái Khâm sai Nguyễn Cửu Vân (thời chúa Nguyễn Phúc Chu, 1691-1725) và là vợ của ông Nghè làm thư kư trong dinh Phiên Trấn, cho xây mộy cây cầu dài bắt qua sông để chồng tiện đi làm việc và cũng để dân chúng sử dụng. Cầu nầy được dân gọi Bà Nghè, sau đổi thành Thị Nghè. Thứ hai bà Thị Nghè(vợ một ông Nghè) tổ chức các toán dân Pháp đánh quân Pháp. Khi giặc chiếm Sài G̣n, cho một tàu nhỏ đổ quân lên bờ liền bị nghĩa quân của Thị Nghè đánh dữ dội. Sau bà hy sinh trong một trận đánh. Dân chúng đặt tên sông, cầu và vùng Thị Nghè từ đó.

Kinh Tàu Hủ (c̣n gọi là kinh Chợ Lớn) và đường thủy vẫn quan trọng về giao thông và kinh tế, v́ nối liền Sài G̣n với các sông ng̣i chảy xuống miền Tây.  Xưa, vùng nầy c̣n có rạch Chợ Lớn nhưng quá nhỏ hẹp nên vua Gia Long cho 11.460 dân công đào kinh Tàu Hủ trong ba tháng và hoàn tất ngày 23 tháng Tư năm Kỷ Mảo (1819). Kinh dài độ năm cây số rưởi, rộng gần 37 thước, sâu khoảng 17 thước. Gia Long đặt tên kinh là An Thông Hạ. Kinh Ruột Ngựa do quan Nguyễn Hữu Đàm cho đào vào mùa Thu năm Nhâm Th́n (1772), phá một đường śnh lầy để đào con kinh thẳng như ruột ngựa, nên gọi là "Mă Trường Giang", giúp cho thuyền bè đi lại được thuận lợi hơn.

Lúc đất Sài G̣n mới phát triển, có rất nhiều kinh rạch đào ngang dọc thành phố nhưng đă bị lấp từ lâu để làm đường xá như kinh Sa Ngư (sau lấp lại thành đường Nguyễn Huệ, kinh Cây Cầm, (chạy trên đường Lê Thánh Tông), kinh Chợ Vải (chạy tới mặt tiền Toà Đô Chính). rạch Cầu Sấu (xưa có hầm nuôi cá sấu để bán thịt, rạch chạy đến hai đường Công Lư và Hàm Nghi), rạch Bà Tịnh (chạy đến đường Vơ Tánh)... \ V́ thế, Sài G̣n có rất nhiều cầu xưa cũ như cầu Cao Miên (cầu Bông), cầu Muối , cầu Ông Lănh, cầu Mống, cầu Quây, cầu Kho, cầu Quan, cầu Thị Nghè, cầu Xóm Chỉ, cầu Chợ Lớn, cầu Chà Và, cầu Xóm Củi, cầu Ông Lớn (xưa dân chúng không được gọi tên thật của Việt gian Đỗ Hữu Phương), cầu Bót B́nh Tây, cầu Ba Cẳng...

Khí hậu của thành phố Sài G̣n có hai mùa rơ rệt. Mùa mưa từ tháng Năm đến tháng Mười, mùa khô từ tháng Mười Hai đến tháng Tư. Mưa nhiều vào tháng Sáu và tháng Chín, có gió Tây Nam thổi, Hai tháng nóng nhất là tháng Tư và tháng Tám, có gió Đông Bắc thổi. Tháng Mười Hai mát nhất, nhiệt độ trung b́nh hàng năm là 26.9 bách phân.

Các quốc lộ 1, 4, 13 và liên tỉnh lộ 5, 52 là những đường giao thông quan trọng nối Sài G̣n với các tỉnh khác. Phi trường của Sài G̣n là phi trường Tân Sơn Nhất, có những phi đạo lớn theo tiêu chuẩn quốc tế.

THẮNG CẢNH

Thảo Cầm Viên: Ở 2B Nguyễn Bỉnh Khiêm, Quận 1. Thảo Cầm Viên là một trong những địa chỉ văn hóa, nơi bảo tồn động thực vật có tuổi thọ đứng hàng thứ 8 trên thế giới. Bắt đầu xây dựng vào tháng 03/1864 trên một khu đất rộng ha nằm cạnh sông Rạch Lăng (phía Đông Bắc Sài G̣n) do một chuyên viên khảo cứu thực vật nhiệt đới người Pháp là ông J.B.Louis Pierre phụ trách. Công tŕnh hoàn thành vào năm 1865, trong đó trồng nhiều loại cây quí ở trong nước và trên thế giới, nhập từ Ấn Độ, Thái Lan, Lào, Cam-Pu-Chia như cacao, cafe, vani, một vài giống mía gọi là Jardin Acclimater... Nhiều loại động vật lạ và quí hiếm được đưa về nuôi ở đây được gọi là Sở Thú. Đến năm 1924, Sở Thú được mở rộng thêm 10 ha. Ngày 27/11/1927, Pháp cho xây Temple Du Souvenir có kiến trúc giống như đền thờ lăng tẩm Huế. Trên lầu có thư viện khá rộng. Năm 1956, chính quyền Sài G̣n cho tu sửa và thiết kế lại, viện bảo tàng Blanchard de la Brosse được đổi là viện bảo tàng quốc gia Sài G̣n, Sở Thú đổi là Thảo Cầm Viên.

Từ năm 1989, chuồng trại được cải tạo và mở rộng cho thích hợp với đời sống sinh thái của từng loại thú. Diện tích chuồng trại là 21.352 m2 (192.168 sq ft). Năm 1990, Thảo Cầm Viên là thành viên chính thức của hiệp hội các vườn Đông Nam Á. Năm 1991, khu hoa viên trong Thảo Cầm Viên được thiết lập lại sau nhiều năm bỏ hoang. Sau hơn 130 năm xây dựng, Thảo Cầm Viên đă trở thành một vườn thú lớn của cả nước với 590 đầu thú thuộc 125 loài; thực vật có 1.800 cây gỗthuộc 260 loài, 23 loài lan nội địa, 33 loài xương rồng, 34 loài bonsai và thảm cỏ xanh trên diện tích 20 ha, chia ra làm nhiều khu: khu nuôi cầm thú, khu cây cảnh và phong lan, khu vui chơi... Thảo Cầm Viên hàng ngày đón hàng ngh́n lượt khách đến tham quan.

Công viên Đầm Sen: Công viên Đầm Sen thuộc quận 11, là khu vực có hồ lớn mênh mông, diện tích vào khoảng 52ha, giáp hai đường Lạc Long Quân và Ḥa B́nh. Tới đây du khách mất nhiều thời gian mới có thể đi thăm hết 30 khu vực của công viên.

Khu vui chơi giải trí có khu tṛ chơi điện tử, sân khấu cổ tích, lâu đài cổ tích, sân khấu quảng trường, non bộ - thủy cung, đảo khiêu vũ, nhà sinh vật biển, rối nước, vườn chim thiên nhiên, vườn bướm thiên nhiên, chùa cổ Giác Viên, khu câu cá, khu tṛ chơi mạo hiểm, hồ thiên nga, hồ ngựa phi, khu trưng bày kỳ long, quán trà đạo, vườn hoa Châu Âu, quảng trường La Mă, quảng trường văn hóa, sân khấu nhạc nước, khu bowling, khu dịch vụ thể thao, hồ câu tôm, nhà hàng Thủy Tạ, khu tṛ chơi thiếu nhi, đèn tạo h́nh, cầu cửu khúc, nhà ga Monorail, đường ga Monorail...

Khu cắm trại là một khu đất trống được dành riêng cho khách có nhu cầu cắm trại. Khu vực ḷng hồ dành cho nhiều hoạt động trên mặt nước như : câu cá, bơi xuồng, nhà Thủy Tạ, đảo khiêu vũ, sân khấu rối nước...

Khu du lịch "Một Thoáng Việt Nam": Địa chỉ: Bế Ḅ Cạp, ấp Phú B́nh, xă An Phú, huyện Củ Chi. Khu du lịch "Một Thoáng Việt Nam" là một quần thể làng nghề thủ công truyền thống, với diện tích 22,5 ha đất bưng biền, nằm cạnh rạch Ḅ Cạp, gần sông Sài G̣n. Khu du lịch bao gồm 30 hạng mục với: đền thờ đất nước, sa bàn nước Việt Nam, lầu vọng, ba khu tiêu biểu cho ba miền đất nước. Bên cạnh là khu văn hóa ẩm thực, đảo nuôi chim thú tự nhiên, khu chợ hàng tiểu thủ công nghiệp, chợ trên sông, vườn cây ăn trái...

Ở đây, những người thợ thủ công, nông dân, nghệ nhân ... thuộc nhiều dân tộc khác nhau, đến từ những miền quê khác nhau cùng lao động sản xuất bên nhau trong một số nghề truyền thống tiêu biểu như : đan lát mây tre, dệt tơ lụa và thổ cẩm, gốm sứ, chầm nón, thêu ren, làm giấy dó, in khắc tranh, điêu khắc đá, điêu khắc mộc, chế biến mía đường, canh tác lúa nước, nuôi trồng thủy sản, ươm trồng hoa lan, cây cảnh, chăn nuôi gia súc, gia cầm... thăm khu du lịch "Một Thoáng Việt Nam" sẽ lưu lại cho du khách những ấn tượng sâu sắc về đất nước Việt Nam.

KINH TẾ

Người dân Việt Nam đến lập nghiệp tại vùng đất Gia Định - Sài G̣n từ thế kỷ thứ 17. Quá tŕnh phát triển khá phức tạp của Sài G̣n khiến người ta lẫn lộn về tên gọi. Vùng đấy ngày nay gọi là Sài G̣n trước đây có tên là Bến Nghé (c̣n gọi theo chữ Hán Việt là Ngưu Chữ hoặc tên B́nh Giang).

Từ nguyên thủy xóm Bến Nghé này chạy dài từ khu Chợ Quán tới Hiển Trung Từ (khoảng đường Vơ Tánh và Nguyễn Cư Trinh) và Thủy Xương (xưởng đóng tàu, ven đường Cường Để). C̣n vùng đất ngày xưa gọi là Sài G̣n do chữ Đề Ngạn, đọc theo người Hoa thành Tầy Nguồn, là nơi sinh sống của người Trung Hoa (lập xă Minh Hương năm 1698) sau nầy ta gọi là Chợ Lớn, và vùng Phú Lâm là nơi sinh sống của người Khmer. Nối với ba vùng này là kinh rạch được sử dụng để chuyên chở hàng hóa nhiều hơn đường bộ.

Vùng đất mới mở mang này sớm trở thành một trung tâm thương mại sầm uất. Trước khi bị Nguyễn Ánh tái chiếm, đất Sài G̣n đă là phố thị nổi tiếng, dân chúng ở các nơi xa và thương thuyền ngoại quốc thường đến trao đổi hàng hóa, bán cho triều đ́nh khí giới, binh khí, thuốc súng và mua vào các thổ sản như lúa gạo, đường, tiêu, bông, gừng, tơ lụa, gia súc làm thịt, gỗ, trái cây...

Từ khi Nguyễn Ánh chuẩn bị hậu phương đánh ra Bắc tương tranh với nhà Tây Sơn, Th́ việc buôn bán tại đây lại càng tấp nập. Gạo vẫn là món chính để trao đổi không những về kinh tế mà c̣n về chính trị nữa. Chẳng hạn, vào tháng 4 -1789, nước Xiêm La bị nạn đói, cho thuyền đến xin gạo, Nguyễn Ánh bèn cho hơn 2.000 tấn gạo để mưu cầu lợi dụng quân Xiêm sau nầy.

Những khu phố chợ nổi danh đầu tiên của Sài G̣n là: Chợ Bến Thành (trước nằm trên đường Nguyễn Huệ) có phố xá đông đúc hai bên kinh Sa Ngư, có đ̣ ngang, cầu ván, phố nhà ngói, hàng hóa chất đầy dọc theo kinh, ghe thuyền đậu , chật bến. Chợ Bến Nghé (gần bờ sông khoảng đầu đường Tự Do và Nguyễn Huệ). Phố Chợ Sài G̣n (ở B́nh Tây ngay trung tâm Chợ Lớn), cửa hàng buôn bán liên tiếp nhau, dài khoảng ba dặm, đa số là người gốc Trung Hoa và một ít người Việt cư ngụ; hàng hóa bài bán các loại vải gấm, châu báu, đồ sứ, thuốc ta, trà bột, giấy mực...

Chợ Điều Khiển (gần khu đường Nguyễn Trăi và Bùi Thị Xuân) và chợ Bến Sỏi (bên này sông Sài G̣n nh́n nhà rồng Thủ Thiêm) cũng rất sầm uất. Phố chợ B́nh An bán nhiều đặt sản ở núi, biển; ban đêm c̣n thắp đèn buôn bán. Chợ Tân Kiểng (gần Chợ Quán), buôn bán đông đúc, hàng năm vào việc Tết Nguyên Đán thường tổ chức nhiều tṛ thú vị và cũng được gọi là "Chợ Lớn"...



Nhiều khu vực chỉ buôn bán một loại hàng hóa đặc biệt nên được đặt tên chuyên nghiệp như: Cầu Muối, chợ Đũi  (bán hàng dệt bằng tơ gốc), hàng Đinh, xóm Chiếu, đường Thợ Tiện, xóm Gốm. xóm Ḷ Vôi, xóm Lá (bán lá lợp nhà), xóm Ḷ Rèn, xóm Câu, xóm Chỉ, cầu Đường, xóm Dầu, chợ Sồi (bán vải sồi dệt từ bông g̣n không được bền, đẹp), xóm Củi, xóm Gạo, xóm Lá Buôn, xóm Vườn Mít (xưa dân nghèo lấy hột mít xay thành bột đem bán), đường Hàng Cháo Muối...

 

Mật độ dân cư sống trong thành phố rất cao, ngoài đồng bào Kinh chiếm phần lớn, c̣n có đồng bào Việt gốc Hoa, Chàm, Ấn Độ, Khmer cư ngụ khá đông. Các tôn giáo chính là đạo Phật, Thiên Chúa, Cao Đài, Ḥa Hảo. Đời sống của dân chúng thành phố hoàn toàn chú trọng vào việc phát triển thương mại và kỹ nghệ. Dân chúng buôn bán làm ăn nên cuộc sống sung túc và phong phú.

Các ngành công nghiệp nhẹ gồm có dệt vải, tơ sợi, quần áo, thủy tinh, các sản phẩm chế biến như nhựa cao su, bột giặc, xà bông, sữa, đường, thuốc lá, dầu ăn, rượu bia, nước ngọt, bánh ḿ, đồ hộp, bánh kẹo, hóa chất, xe đạp, một số dụng cụ, phụ tùng nhẹ cho các ngành kỹ nghệ... Ngành tiểu thủ công nghệ cũng phát triển mạnh không kém như sơn mài, đồi mồi , đan chiếu, cói, thêu, may mặc, nước mắm, tương chao, đồ chơi... và rất nhiều ngành nghề sản xuất các mặt hàng đa dụng khác.

Ngoài ra, dân chúng c̣n buôn bán hàng hóa từ các nơi vận chuyển đến như những loại nông sản, hải sản, lâm sản, hoa, trái cây và nhiều hàng hóa linh tinh khác...Chợ búa lớn nhỏ sầm uất ở khắp nơi như chợ Bến Thành, chợ Lớn, chợ Bà Chiểu, chợ Trần Quốc Toản, chợ Nguyễn Tri Phương. Tiệm buôn phát triển khắp đường phố. Xe vận tải, ghe thuyền chở hàng hóa ra vào thành phố lúc nào cũng tấp nập. Nhiều loại hàng hóa được xuất cảng ra ngoại quốc. Nền văn hóa giáo dục, văn học nghệ thuật rất mở mang, các trường đại học, trung học công lập và tư thục nhiều nhất nước.

 

LỊCH SỬ

Tên Sài G̣n bắt đầu xuất hiện chính thức về mặt hành chính từ khi chúa Nguyễn Phúc Chu sai ông Nguyễn Hữu Cảnh làm kinh lược đất Chân Lạp (1698) chia đất Đông Phố (Giản Phố) ra làm dinh, huyện; lấy xứ Đồng Nai làm huyện Phước Long và xứ Sài G̣n làm huyện Tân B́nh, đặt ra hai dinh Trấn Biên (Biên Hoà) và Phiên Trấn (Gia Định) cho quan vào cai trị. Từ năm 1698 đó, xứ Sài G̣n trở thành huyện Tân B́nh và huyện sở đặt ở làng Tân Khai, là trụ sở của dinh Phiên Trấn.

Những xóm làng đầu tiên của Sài G̣n là xóm Ḥa Mỹ (tức xóm Thủy Trại, gần đường Cường Để)  xóm Tân Tân Khai (đường mé sông khoảng cầu Mống), xóm Long Điền, xóm Than, xóm Bàu Sen (cây Mai), xóm Phú Giáo, xóm Ḷ Bún, xóm cây Cui, xóm Rẫy Cải, xóm Ụ Ghe. Về lai lịch Sài G̣n có bốn giả thuyết. Trước tiên, đất nầy có tên là Sài G̣n, tên gốc Khmer phiên âm từ tiếng Prei Kor (rừng cây bông g̣n) hoặc của tiếng Prei Nokor (đô lâm, thành lâm hay hoàng lâm), nguyên là dinh của Phó Vương Cao Miên, thuộc vùng Chợ Lớn tới chùa Cây Mai.

Thuyết thứ hai, năm 1778, người Trung Hoa từ cù lao Phố (Biên Ḥa) đổ về đây, xây bờ gạch cao dọc theo kinh Tàu Hủ để ngăn nước, nên người Tàu gọi là Tầy Nguồn (Đề Ngạn); do tiếng Tầy Nguồn này, quân Pháp phiên âm ra chữ Sài G̣n (về hành chính gồm cả Gia Định thành, c̣n tên Sài Côn hay Tầy Nguồn chỉ Chợ Lớn). Thuyết thứ ba cho rằng Sài Côn hay Sài G̣n là tiếng phiên âm của chữ Tây Cung ṿng thành của Phó Vương Cao Miên, đối chiếu với Đông Phố là tư dinh của quan Kinh lược Việt Nam.

Thuyết thứ tư, tiếng Sài Côn hay Sài G̣n đều là tiếng phiên âm của hai chữ Tây Cống, nơi nhận cống lễ của đời vua Cao Miên dâng cho vua Việt Nam. Do vậy dù cho tiếng nào phiên âm chăng nửa, vùng đất tên gọi Sài G̣n khi xưa là "Chợ Lớn" ngày nay. C̣n vùng đất nầy ta gọi là Sài G̣n từ năm 1790 đến 1861 thuộc phạm vi thành Gia Định (thành Bát Quái) hoặc vùng Bến Nghé và vào đời Minh Mạng được gọi là tỉnh thành Phiên An. Năm 1832 , bỏ cấp Gia Định thành, năm trấn đổi thành sáu tỉnh; trấn Phiên An thành trấn Phiên An. Năm 1833, tỉnh Phiên An cải thành tỉnh Gia Định.

V́ là một vị trí chiến lược, mảnh đất Sài G̣n ngày xưa đă chứng kiến biết bao biến cố thăng trầm của lịch sử. Từ 1776 đến 1788, thời nội chiến giữa nhà Tây Sơn và nhà Nguyễn. Sài G̣n là địa bàn chuyển quân của Tây Sơn và quân của Nguyễn Ánh. Dân chúng phải sống trong cảnh "hai chính phủ" thường xuyên. Mỗi lần anh hùng Nguyễn Huệ vào Gia Định đánh đuổi Nguyễn Ánh ra biển xong, đặt quan coi việc dân rồi trở về quê Quy Nhơn hay Phú Xuân th́ Nguyễn Ánh lại quay về đánh chiếm. Tháng 8 năm Đinh Dậu (7-9-1788), lợi dụng quân Tây Sơn tái lập trật tự Bắc Hà và chuẩn bị đánh quân Thanh, Nguyễn Ánh vào được Sài G̣n và xây dựng cơ sở tấn công Tây Sơn,

Hai năm sau Nguyễn Ánh chọn Sài G̣n làm kinh đô, gọi là Gia Định kinh; nhờ hai người Pháp vẽ họa đồ xây thành bảo vệ thật kiên cố theo kiến trúc Tây Phương nhưng mang h́nh Bát Quái. Tháng 7 năm Nhâm Tư (1792) vua Quang Trung Nguyễn Huệ băng hà và Nguyễn Ánh phản công mất nhiều năm mới thắng. Sau khi tiêu diệt nhà Tây Sơn, Nguyễn Ánh lên ngôi vua lấy hiệu là Gia Long, rời kinh đô từ Gia Định kinh (Sài G̣n) về Huế.

Năm 1811, thành Huế làm xong th́ Gia Định kinh được đổi thành Gia Định thành (cấp thành lớn hơn trấn) và chỉ c̣n là thị sở của quan Tổng trấn Nam Kỳ. Đời Minh Mạng, năm 1830, Lê Văn Duyệt cho sửa thành Bát Quái. Tiếc thay việc sửa thành, cộng thêm tư thù khi c̣n trẻ với Lê Văn Duyệt, Minh Mạng vu cho ông tội nhị tâm làm Lê Văn Khôi là con nuôi Lê Văn Duyệt nổi loạn, đánh chiếm lấy thành trong mấy năm (1833-1835) nên Minh Mạng đă cho phá thành Bát Quái để lập thành Gia Định mới năm 1837.

Tháng 2-1859. quân Pháp đem thủy quân hổn hợp Pháp -Tây Ban Nha từ Đà Nẵng vào cửa Cần Giờ, vượt qua sông Ḷng Tảo, sông Nhà Bè, sông Sài G̣n để đánh chiếm thành Gia Định. Mặc dù quân triều đ́nh và dân quân kháng chiến chống trả dữ dội nhưng bị hỏa lực giặc quá mạnh, rạng sáng ngày 17-2 thành Gia Định bị vỡ. Quan giữ thành là Hộ đốc Vơ Duy Ninh và án sát Lê Ninh tuẫn tiết.

Sau chiến thắng tướng Pháp Rigault Genouillky thấy thành quá rộng không thể rải quân bảo vệ, lại lo ngại các kho chứa quân cụ và lương thực lọt vào tay nghĩa quân sau nầy, nên ngày 8 tháng 3 năm 1859 đă phá thành Gia Định bằng ổ cốt ḿn. Thành bị nổ tan tành cùng với 20.000 cây súng đủ cỡ, nhiều binh khí, 85 thùng thuốc súng (và vô số hỏa pháo, diêm sinh) kho lúa dự trữ cho 8.000 người ăn, cùng một số tiền bản xứ (tiền điếu và tiền kẽm). Tiếng nổ làm rung chuyển cả một gốc trời, lửa bốc cháy cao ngùn ngụt đến cả tháng mới tắt. De Genouilly để lại một Tiểu đoàn đóng đồn ở bờ sông, rồi kéo thủy quân ra Đà Nẵng.

DI TÍCH

Chùa Giác Lâm: Địa chỉ: 118 Lạc Long Quân, Quận Tân B́nh. Là một trong những ngôi chùa cổ xưa nhất thành phố, chùa c̣n có tên là Cẩm Sơn hoặc Cẩm Điện. Chùa được xây vào năm 1744. Phong cảnh nơi này đẹp như tranh với những vườn hoa và những cây cao. Nhiều người đến đây để sáng tác và ngâm thơ. Chùa được trùng tu nhiều lần: năm 1804 và 1909. Trên cổng có ba chữ Giác Lâm Tự viết bằng chữ Hán. Chùa c̣n được gọi là đ́nh Giác Lâm v́ có nhiều am với những người trụ tŕ thuộc ḍng họ Lâm Tế, con cháu của những người truyền và phát triển đạo Phật ở Trung Quốc.

Chùa Giác Lâm được xây dựng trên một diện tích rộng. Kiến trúc của chùa khá đặc sắc, đặc biệt là những cột chùa to lớn, màu nâu đậm, trên đó chạm những câu đối mạ vàng (có 143 cặp câu đối). Bao lam của chùa chạm các loại hoa mai, hoa cúc và chín con rồng. Chính điện thờ Phật Di Đà, dưới thờ Phật Thích Ca, Di Lặc, hai bên thờ Quan Thế Âm và Thế Thái (Thế Chí). Ngoài ra chùa c̣n có tượng Cửu Long, hai bên tường là Thập Bát La Hán, Thập Điện Diêm Vương, Tổ Sư Đạt Ma và tượng Long Vương. Có 113 pho tượng Phật bằng đồng và gỗ quí, đặt thờ tại đây được khoảng 200 năm. Kiến trúc của chùa mang đậm nét văn hóa phương Đông, nghiêm trang, nhẹ nhàng, mỹ thuật. Đặc biệt tượng Phật Địa Tạng của chùa đẹp có tiếng. Chùa được công nhận là di tích lịch sử văn hóa quốc gia.

Chùa GiácViên: Địa chỉ: 161/85/20 Lạc Long Quân, Quận 11 (khu vực Đầm Sen). Chùa đă có từ năm 1798. Sư Hải Tịnh tu tại chùa Giác Lâm, v́ thấy chùa Giác Viên hỏng nhiều cần tu bổ lại nên qua trụ tŕ chùa Giác Viên (cách chùa Giác Lâm khoảng 2 cây số). Sư Hải Tịnh đă quyên góp để tu tạo chùa Giác Viên. Sửa xong chùa, sư Hải Tịnh giao cho đồ đệ là Ḥa thượng Hoằng Ngăi trụ tŕ chùa Giác Viên. Trước đây chùa có tên khác là chùa Hố Đất, đến năm 1850, chùa được gọi là Giác Viên. Đáng chú ư nhất ở ngôi chùa này là những tấm bảng khắc bằng gỗ được chạm trổ rất tinh vi, đặc trưng cho kiến trúc cổ phương Nam.

Sau những lần trùng tu vào các năm 1958, 1961, 1962, ở đây đă xuất hiện những nét kiến trúc phương Tây. Xung quanh chùa có một tu viện dành cho những nhà hành đạo, một nhà in của tờ báo Lục Ḥa Tăng và trung tâm huấn luyện bồi dưỡng của các vị cao tăng. Đến nay ngôi chùa c̣n giữ được 153 pho tượng, 60 bao lam lớn nhỏ chạm 18 vị La Hán, muông thú, trái cây và một số tác phẩm điêu khắc nghệ thuật khác. Trong chùa c̣n có một bảng gỗ h́nh vuông của vị cao tăng đầu tiên là Ḥa thượng Hải Tịnh và một cây mai do ông Mạc Cửu trồng vẫn c̣n đến ngày nay.

Bát Bửu Phật Đài: Bát Bửu Phật Đài tọa lạc ở xă Lê Minh Xuân, huyện B́nh Chánh, cách trung tâm thành phố vào khoảng 30 km (18 miles) về phía Tây Nam. Phật Đài được xây dựng năm 1959, hoàn thành vào năm 1961 trên một khu đất rộng hơn 1.000 m2 (9000 sq ft). Kiến trúc Phật Đài h́nh bát giác, cao 3 m (9ft). Tầng trên tôn trí tượng Đức Phật Thích Ca Mầu Ni cao 7 m (21 ft), nặng khoảng 4 tấn, do điêu khắc Nguyễn Thanh Thu tạc năm 1957.

Trải qua những năm tháng chiến tranh, cả vùng này bị bom đạn tàn phá, chỉ có ngôi Phật Đài với kim thân Phật Tổ vẫn sừng sững nơi hoang vắng, nên người dân địa phương đă gọi ṭa di tích tôn nghiêm này là Phật Cô Đơn. Đến nay Bát Bửu Phật Đài được sửa sang và xây dựng thêm trong khuôn viên 5 ha. Với kiến trúc độc đáo, trang trí hài ḥa, khung cảnh thanh nhàn ngày càng hấp dẫn đông đảo tín đồ và du khách.

Chùa Hưng Long: Trên đường Minh Mạng, do Ḥa thượng Phước An xây năm Giáp Dần (1794). Chùa được trùng tu nhiều lần.

Chùa Quỳnh Phủ: Trên đường Đồng Khánh trong chùa có một chung đồng lớn đề "Quang Tự Ất Hợi" (1875).

Trở Lại

     -o0o-

 

Xin gởi bài mới và ư kiến đóng góp về Tạng Thư Phật Học qua địa chỉ email: tangthuphathoc@gmail.com