Huế
ĐỊA LƯ
Diện
tích: 5.010 km2.
Dân số (2004): 1.088.134 người.
Tỉnh lỵ: Thành phố Huế.
Các huyện: Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú
Vang, Hương Thủy, Phú Lộc, A Lưới, Nam Đông.
Dân tộc: Việt (Kinh), Tà ôi, Cà Tu, Bru - Vân Kiều,
Hoa...
Phía Bắc, Thừa Thiên Huế giáp tỉnh Quảng Trị, phía
Nam giáp thành phố Đà Nẵng, phía Tây Nam giáp tỉnh
Quảng Nam, phía Tây dựa vào dăy Trường Sơn chính là
biên giới Việt - Lào, phía Đông trông ra biển. Cách
Hà Nội 660 km (413 miles), cách thành phố Sài G̣n
1.080 km (675 miles).

Địa h́nh Thừa
Thiên Huế có cấu tạo dạng bậc khá rơ rệt. Địa h́nh
núi chiếm khoảng 1/4 diện tích, từ biên giới Việt -
Lào và kéo dài đến thành phố Đà Nẵng. Địa h́nh trung
du chiếm khoảng 1/2 diện tích, độ cao phần lớn dưới
500 m (1,500 ft), có đặc điểm chủ yếu là
đỉnh
rộng, sườn thoải và phần lớn là
đồi
bát úp, với chiều rộng vài trăm mét. Đồng bằng Thừa
Thiên Huế điển h́nh cho kiểu đồng bằng mài ṃn, tích
tụ, có cồn cát, đầm phá. Diện tích vùng đồng bằng
chiếm khoảng 1.400 km2 (547 square miles).
Hầu hết các
sông lớn ở Thừa Thiên Huế đều bắt nguồn từ dăy núi
Trường Sơn, chảy ngang qua đồng bằng, xuống đầm phá,
đổ ra biển như sông Ô Lâu, sông Bồ, sông Hương, sông
Truồi, sông Cầu Hai... Trong đó sông Hương là con
sông lớn nhất có diện tích lưu vực 300 km2 (117
square miles).
Bờ biển dài
120 km (75 miles), có cảng Thuận An và Vịnh Chân Mây
với độ sâu 18 - 20 m (54 - 60 ft), có khả năng xây
dựng cảng nước sâu. Sân bay Phú Bài nằm trên đường
quốc lộ 1A và
đường
sắt xuyên Việt chạy lục tỉnh. Giao thông đường bộ,
đường sắt, đường hàng không và
đường
thủy đều thuận lợi.
Nằm trong vùng
khí hậu nhiệt đới gió mùa cho nên thời tiết diễn ra
theo chu kỳ 4 mùa, mùa xuân mát mẽ, ấm áp; mùa hè
nóng bức; mùa thu dịu dàng và mùa đông gió rét.
Nhiệt độ trung b́nh cả năm 25
°
C. Số giờ nắng cả năm là 2000 giờ. Mùa du lịch đẹp
nhất từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau.
Thừa Thiên Huế
có đặc thù ưu việt đó là sự đa dạng của cảnh quan
thiên nhiên cộng với yếu tố nhân tạo đă tạo ra cho
Thừa Thiên Huế một nét đẹp hài ḥa, phản ánh đầy đủ
những thắng cảnh của một Việt Nam thu nhỏ. Sông
Hương chảy giữa ḷng thành phố, những khu vườn xum
suê, những ḍng kênh bao quanh, những đồi thông soi
bóng xuống những hồ nước trong xanh, trải rộng,
những băi tắm Thuận An, Cảnh Dương, Lăng Cô nước
trong, cát mịn. Tựa lưng vào dăy Trường Sơn hùng vĩ,
Thừa Thiên Huế tự hào có khu nghỉ mát lư tưởng Bạch
Mă đă từng được so sánh với các khu nghỉ mát độc đáo
của Đông Dương.
Thừa Thiên Huế
là một vùng đất cổ. Vào thế kỷ 13 vùng đất thơ mộng
này đă ḥa nhập vào Đại Việt bởi là quà tặng của Vua
Chiêm Thành khi cưới công chúa Huyền Trân nhà Trần.
Phong cảnh tươi đẹp, địa h́nh hiểm trở tạo cho Huế
có một vị trí đặc biệt trong lịch sử Việt Nam. Nơi
đây đă được chúa Nguyễn Hoàng chọn làm Kinh Đô xứ
Đàng Trong (1558), vua Quang Trung chọn làm Kinh Đô
triều đại Tây Sơn (1788 - 1802), vua Gia Long chọn
làm Kinh Đô triều Nguyễn (1802 - 1945). Trong hơn
400 năm, Huế là trung tâm chính trị, văn hóa của nhà
nước Việt Nam. Chính v́ vậy, nơi đây c̣n lưu giữ
hàng trăm di tích lịch sử, văn hóa mà nổi bật nhất
là các cung điện, lăng tẩm của các vua chúa nhà
Nguyễn. Với các di tích đó, Huế đă được công nhận là
di sản văn hóa thế giới (ngày 11/12/1993).
Tiềm năng du
lịch nổi bật của Huế là quần thể các di tích văn hóa
Thừa Thiên Huế vừa được UNESCO công nhận là di sản
văn hóa nhân loại với trên 300 công tŕnh kiến trúc
bao gồm hệ thống thành quách, cung điện, lăng tẩm
của các vua triều Nguyễn; các kiến trúc cung đ́nh,
kiến trúc dân gian, các chùa chiền, miếu mạo, phủ đệ,
hệ thống nhà vườn…
THẮNG CẢNH
Sông Hương:
Du khách đă đến Huế th́ không
ai bỏ qua chương tŕnh du thuyền trên sông Hương.
Bởi Huế mà không có sông Hương th́ đâu c̣n Huế thơ,
Huế mộng... Gọi là sông Hương v́ từ xa xưa,
ḍng
sông này đă chảy qua những cánh rừng nhiều thảo mộc
có hương thơm ngào ngạt, nên khi vào Huế ḍng sông
đem theo hương thơm của cây cỏ thiên nhiên. Với độ
dài khoảng 80 km (50 miles). Sông Hương uốn lượn
trong thành phố Huế như một sự sắp đặt để làm vui
ḷng du khách. Thuyền sẽ đưa du khách dạo khắp kinh
thành dưới các cầu Dă Viên, Phú Xuân, Tràng Tiền,
đưa du khách lên thăm lăng Minh Mạng, Điện Ḥn Chén,
chùa Thiên Mụ v.v.. Và xuôi về Thuận An tắm biển. Du
khách thích tư duy, xin mời ngược ḍng sông lên chơi
rừng thông Lăng Thiên Thọ mà nghe vi vút thông
reo... Khi đ
êm
về, dưới ánh sáng trăng, mặt sông như được dát bạc,
giọng ḥ man mác cất lên, du khách hăy đón chén rượu
từ tay cô gái Huế mà thưởng thức vị ngọt ngào trong
tiếng đàn, giọng hát.
Thành Phố Huế:
Huế là tỉnh lỵ của tỉnh
Thừa Thiên Huế, một kinh đô cổ của Việt Nam c̣n tồn
tại khá nhiều công tŕnh gần như nguyên dạng. Giá
trị to lớn của Huế được thế giới biết đến chính là
quần thể kiến trúc cung đ́nh, thành quách, đền miếu,
lăng tẩm... của các vua chúa triều Nguyễn, được xây
dựng công phu trong phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ
dọc hai bên bờ sông Hương. Nếu được so sánh, th́ có
thể nói vịnh Hạ Long là sự kỳ diệu của thiên nhiên
c̣n cố đô Huế là sản phẩm của sự sáng tạo của trí
tuệ Việt Nam. Với những nét đặc sắc đó, tổng thể di
tích cố đô Huế đă được UNESCO công nhận là di sản.
Núi Ngự B́nh:
Núi c̣n có tên là Băng Sơn,
cách kinh thành Huế khoảng 3 km (2 miles). Ngự B́nh
là ngọn núi h́nh thang, cao 105 m (315 ft), đỉnh
bằng phẳng. Nh́n từ xa, Ngự B́nh như bức b́nh phong
che chở cho kinh thành Huế.
Cùng với sông Hương núi Ngự B́nh là quà tặng vô giá
thứ hai của tạo hóa cho Huế, quyện vào nhau tạo nên
vẻ sơn thủy hữu t́nh của Huế. Từ lâu, ngọn núi xinh
đẹp này cùng với sông Hương trong xanh đă trở thành
biểu tượng của thiên nhiên Huế. Người ta quen gọi
Huế là xứ sở của sông Hương - núi Ngự.
Từ bao thế hệ, lớp lớp tao nhân mặc khách từng coi
đây là chốn thưởng ngoạn thiên nhiên kỳ thú. Vào
những ngày đẹp trời, đứng trên những Ngự B́nh, có
thể thu vào tầm mắt toàn cảnh thành phố với cung
điện nguy nga, mái chùa cổ kính và ḍng sông Hương
xanh biếc uốn lượn quanh co. Ngay trước tầm mắt là
khu đồi, là rừng thông bát ngát tiếp đến một rừng
đồng bằng rộng lớn của các huyện: Hương Thủy, Phú
Vang, Hương Trà cỏ cây xanh rờn... Xa hơn là dăy
Trường Sơn trùng điệp một màu tím thẫm ẩn hiện sau
những tầng mây bạc. Nh́n về phía Đông, dải cát trắng
mờ phía xa cửa Thuận An với màu xanh thăm thẳm của
biển Đông...
KINH TẾ
Người
Kinh sinh sống đa số trong tỉnh, ngoài ra là một số
đồng bào Thượng sắc tộc Pacoh và Khatu. Tôn giáo
chính là
đạo
Phật, Thiên Chúa, thờ cúng Tổ Tiên và Thần Linh.
Hoa màu chính là lúa, trồng
nhiều ở các vùng Phong Điền, Hương Trà, Hương Thủy,
Phú Vang. Vài loại lúa quư như lúa An Cựu, thơm, hạt
nấu không dính. Các loại hoa màu phụ như sắn, ngô,
đậu nành, bo bo, khoai lang... trồng nhiều ở Quảng
Điền, Phong Điền, Hương Trà. Loại cây kỹ nghệ có
thuốc lá, tiêu, trà. Cây ăn trái gồm xoài, long nhăn,
cam, thanh trà (thuộc loại bưởi), na, dưa hấu, vải.
Các khu rừng rậm có nhiều
lâm sản khai thác như gỗ tre, nứa, lim, gụ, trắc mây,
một số dược thảo, mật ong, sáp ong. Thú rừng cũng
nhiều con như hổ, hươu, dê rừng, khỉ, vượn.
Biển có nhiều loại cá như
cá nhám, cá thu, cá chim, mực, tôm, cá mú, cá đối...
Tại các phá, đầm có nhiều tôm lớn, cá nước ngọt như
cá chép, cá chẻm...
Kinh tế và thương mại của
Huế tập trung vào những sinh hoạt buôn bán b́nh
thường, không có ǵ quan trọng. Đất để trồng trọt
rất ít, thường dùng để trồng cây ăn trái. Nhăn Huế
ngon nổi tiếng.
Kinh tế và thương mại của
Huế tập trung vào những sinh hoạt buôn bán b́nh
thường, không có ǵ quan trọng. Đất để trồng trọt
rất ít, thường dùng để trồng cây ăn trái. Nhăn Huế
ngon nổi tiếng.
Chợ Đông
Ba đem ra ngoài dại.
Cầu Trường Tiền đúc lại xi-mon.
Ôi người lỡ hội chồng con.
Về đây gá nghĩa vuông tṛn với ta.
Xưa, chợ Đông
Ba ở ngay phía trước kinh thành Huế, sau khi quân
Pháp xây ṭa khâm sứ bên cạnh, dân chúng ngầm tỏ ra
bất măn bằng cách dời chợ ra gần cầu Trường Tiền để
dễ dàng lui tới buôn bán. Những người yêu nước
thường mượn h́nh ảnh các di tích và thắng cảnh ở Huế
để đặt ra những câu thơ kêu gọi các sĩ phu tham gia
cứu nước. Và sông Hương cũng nhập vào lời thơ kêu
gọi thống nhất:
Tiếng hát
ngư ông giữa sông Nhật Lệ.
Tiếng kêu đ
àn
nhạn trên ánh Hoành Sơn.
Một ḿnh em ngồi giữa sông Hương.
Tiếng ca theo khúc đoạn trường ai nghe!
Nhưng tiểu thủ
công nghệ của Huế nổi tiếng tinh xảo, nhất là các
nghề chạm trổ điêu khắc. Ngoài ra, nói đến Huế là
nói đến nghề làm nón. Chiếc nón lá bài thơ của đất
Thần Kinh ai cũng biết, đă được ghi vào thi ca vần
nhạc nước ta. Huế c̣n nổi tiếng v́ các món ăn, món
quà
đặc
thù của địa phương. Kẹo mè sửng, bún ḅ Huế, nem,
tré, bánh khoái, bánh ít ram, bánh bèo, bánh khói,
bánh lá chả tôm, cơm nuốc, cơm âm phủ, cơm cháo hến...
là những sản phẩm đặc biệt của thành phố này. Khu
chợ Đông Ba nổi tiếng với nhiều hàng quán tấp nập
người mua bán.
LỊCH SỬ
Đất
Huế xưa thuộc bộ Việt Thường, một trong 15 bộ của
nước Văn Lang. Sau một thời gian dài nước ta bị giặc
chiếm đóng phía Bắc, một dân tộc sống từ lâu ở đây
đă thành lập nước Chiêm Thành, làng Nguyệt Hàn là
quốc đô Phật Thệ của Chiêm. Năm 1306, vua Chế Mân
dâng hai châu Ô và châu Ri làm sính lễ xin cưới
Huyền Trân Công Chúa. Vua Trần Anh Tông đổi châu Lư
thành châu Hóa, châu Ô thành châu Thuận. Châu Hóa
gồm Triệu Phong, Hải Lăng, Phong Điền; Châu Ô gồm
Hương Trà, Quảng Điền, Ḥa Vang, Diên Phước. Cả hai
châu đều thuộc về Thuận Hóa. Thời Minh thuộc, hai
châu Thuận và Hóa nhập lại thành phủ Thuận Hóa. Đời
Lê, vùng này là phủ Triệu Phong thuộc xứ Thuận Hóa.
Năm 1687.Chúa Nguyễn Phúc Trân dựng phủ mới ở Phú
Xuân. Đời Nguyễn Phúc Khoát là Chánh Dinh. Tỉnh Thừa
Thiên lập từ đời Minh Mạng.
Đất thành phố Huế trước đây thuộc trấn Thuận Hóa.
Năm 1558, chúa Nguyễn Hoàng vào trấn đóng nơi nầy,
lập dinh ở làng Ái Từ, thuộc phủ Triệu Phong (tỉnh
Quảng Trị ngày nay). Năm 1687, chúa Nguyễn Phúc Trân
dựng phủ mới ở làng Phú Xuân (thuộc huyện Hương Trà,
tỉnh Thừa Thiên, chỗ Đông Nam Kinh ngày nay).Vào thế
kỷ thứ 17, người Âu Châu thường gọi Thuận Hóa là
Singoa, Sinoa hay Senna. Đến năm 1744, Chúa Nguyễn
Phúc Khoái lên làm vua, đổi phủ thành điện, xây tổng
miếu để thờ các Chúa thời trước. Thời nội chiến giữa
các nhà Trịnh, Nguyễn và Tây Sơn, Phú Xuân giữ vị
trí chiến lược trên cục diện nước ta.
Năm 1774, đời Chúa Nguyễn
Phúc Thuận, Chúa Trịnh Sâm ngoài Bắc cử Hoàng Ngũ
Phúc đánh chiếm Phú Xuân. Hơn mười năm sau, Nguyễn
Huệ giải phóng Phú Xuân năm 1786, lấy đất này làm
bàn đạp hành quân ra Bắc và tiêu diệt quân Măn Thanh
xâm lược năm 1789. Sau đó Quang Trung Nguyễn Huệ
định xây dựng Nghệ An thành kinh đô, nhưng vẫn tái
thiết và mở mang Phú Xuân để trông về miền Nam, nơi
Nguyễn Nhạc thủ quân tại Qui Nhơn, Mặc cho Nguyễn
Ánh trở về Gia Định xây dựng lại lực lượng. Phú Xuân
trở thành kinh đô thực tế của Quang Trung và Quang
Toản cho đến khi nhà Tây Sơn sụp đổ vào tay Nguyễn
Ánh. Năm 1801, Nguyễn Ánh chiếm được Phú Xuân và sau
khi toàn thắng đặt Huế làm kinh đô, gọi cố đô Thăng
Long là Bắc Thành.
Tên gọi của Huế là do chữ Hóa của Thuận Hóa mà đọc
trại ra. Kinh thành Huế được khởi đắp từ năm 1805.
Lúc đầu được đắp bằng đất, đến năm 1818 mới xây bằng
gạch ở mặt phía Nam và Tây, rồi đến mặt phía Bắc,
mặt phía Đông hoàn thành vào năm 1821. Năm 1824,
việc xây cất mới hoàn tất.
Khi quân Pháp xâm lăng nước ta, đất nuớc bắt đầu lâm
vào cảnh lầm than, đen tối. Mọi quyết định quan
trọng của triều đ́nh đều ảnh hưởng đến tương lai dân
tộc. Triều đ́nh Tự Đức bấy giờ nhu nhược, không biết
tính sao, chỉ chủ ḥa để thương lượng với giặc. V́
vậy mới có ḥa ước Nhâm Tuất 1862 nhường cho Pháp ba
tỉnh miền Đông (Biên Ḥa, Gia Định, và Định Tường).
Vận nước nguy như trứng chồng, triều đ́nh vẫn loay
hoay đắp vá, tiến thoái bất thường, ngây thơ trước
những gian manh của giặc. V́ vậy lại có ḥa ước Giáp
Tuất 1874 nhường nốt ba tỉnh c̣n lại của Lục Tỉnh
cho Pháp chiếm. Nói đến lịch sử của Huế là phải nhắc
đến những biến động ở kinh đô vào thời Nguyễn và khi
quân Pháp bắt đầu cai trị nước ta.
Vua Tự Đức mất vào tháng
7-1883, bất lực không con, đem cháu gọi bằng bác là
Thụy Quốc Công lên kế vị, thành vua Dục Đức. Triều
thần không phục, Dục Đức bị phế và giam ngục, một
tuần sau mất. Người em út của Tự Đức là Lạng Quốc
Công Hồng Dật được đưa lên thay là vua Hiệp Ḥa,
nhưng ông cũng là nguời bạc nhược. Trong triều,
người dũng cảm và nhiều quyền uy là Phụ Chính Tôn
Thất Thuyết. Anh hùng Tôn Thất Thuyết sinh trưởng
tại Huế, cùng giữ chức Phụ Chính với Nguyễn Văn
Tường và Trần Tiến Thành coi việc trị nước. Trần
Tiến Thành luôn luôn chủ ḥa nhưng ông Tôn Thất
Thuyết khuyên triều đ́nh phải đánh. Ngày 17-8-1883,
giặc Pháp đem thủy quân tấn công thành Trấn Hải ở
cửa Thuận An, quan quân ta dốc ḷng quyết chiến
nhưng bốn ngày sau thành vỡ. Giặc bắt triều đ́nh kư
ḥa ước Quư Mùi (25-8-1883), chúng muốn chia nước ta
để trị, đ̣i cai quản, bảo hộ, ngang nhiên cắt cho
triều đ́nh mảnh đất con từ tỉnh Khánh Ḥa đến đ
èo
Ngang để "cai trị"! Vua Hiệp Ḥa muốn được yên thân,
dù có bị ngoại bang bảo hộ và chỉ là bù nh́n, nên
ngầm thông đồng với giặc, Hiệp Ḥa bị giam và buộc
uống thuốc độc ngày 30 tháng 11. Ngày 2-12-1883, con
nuôi thứ ba của Tự Đức được đưa lên ngôi là vua Kiến
Phúc th́ chỉ được sáu tháng cũng chết, h́nh như do
Nguyễn Văn Tường đầu độc v́ Tường tư thông với một
bà Học Phi bị vua biết.
DI TÍCH
Kinh Thành Huế:
Phần kinh thành Huế c̣n
lại đến ngày nay là
được
xây dựng từ năm 1805 thời vua Gia Long và hoàn thành
vào năm 1832 thời vua Minh Mạng, trên khoảng diện
tích 5,2 km2 (2,1 square miles) bên bờ bắc sông
Hương. Kinh thành Huế được xây dựng theo kiến trúc
của phương Tây kết hợp một cách tài t́nh với kiến
trúc thành quách phương Đông. Kinh thành gồm ba ṿng
thành: pḥng thành, hoàng thành và tử cấm thành.
Bên trong các lớp thành cao hào sâu là một tổng thể
với hàng trăm công tŕnh kiến trúc lớn nhỏ. Tất cả
những công tŕnh này được xây dựng xung quanh một
trục chính, theo hướng nam bắc. Khởi đầu là Kỳ Đài (cột
cờ), tiếp đến là Ngọ Môn, sân Đại Triều Nghi, điện
Thái Ḥa, điện Cần Chánh, điện Càn Thành, điện Khôn
Thái, điện Kiến Trung và chấm hết ở cửa Ḥa B́nh.
Các công tŕnh kiến trúc c̣n lại được xây đăng đối ở
hai bên đường trục.
Pḥng Thành là ṿng thành ngoài cùng có chu vi 9.950
m (29,850 ft), thành có 10 cửa đường bộ và 2 cửa
đường thủy, thành dày 21 m (63 ft) có 24 pháo đ
ài.
Hoàng Thành là ṿng thành thứ 2 c̣n có tên là
đại
nội, chu vi 2450 m (7,350 ft). Hoàng Thành có 4 cửa:
Ngọ Môn (Nam), Ḥa B́nh (Bắc), Hiển Nhơn (Đông),
Chương Đức (Tây). Ngọ Môn là cửa chính của Hoàng
Thành, cửa này ngày xưa chỉ dành cho vua đi. Đây là
một công tŕnh kiến trúc c̣n sót lại gần như nguyên
vẹn.
Tử Cấm Thành là ṿng thành trong cùng có chu vi 1225
m (3,675 ft), có 7 cửa ra vào. Đây là nơi ở và làm
việc của vua và gia đ́nh. Nơi đây được tách biệt với
thế giới bên ngoài.
Ngọ Môn:
Ngọ Môn là một công tŕnh kiến
trúc bề thế dài 58 m (174 ft), rộng 27,5 m (82,5 ft)
và cao 17 m (51 ft) gồm 3 tầng, là cửa chính của
Hoàng Thành. Ngọ Môn có 5 cửa. Cửa chính giữa chỉ
dành cho vua đi, cao 4,2 m (12,6 ft) rộng 3,7 m
(11,1 ft), hai cửa liền kề là tả, hữu giáp môn dành
cho các quan. Hai cửa ngoài cùng là tả, hữu dịch môn
dành cho lính hầu và
đoàn
tùy tùng. Trên ṿm cổng là lầu Ngũ Phụng, nơi nhà
vua ngự trong các dịp lễ. Đây c̣n là nơi cử hành lễ
xướng danh các sĩ tử trúng tuyển trong các khoa thi
hội, thi đ́nh trước khi đem yết bảng ở Phú Văn Lâu.
Suốt thời nhà Nguyễn, chỉ khi nào vua đi hoặc tiếp
các sứ thần th́ cửa Ngọ Môn mới được mở.
LỄ HỘI
Lễ Hội Điện Ḥn Chén:
Lễ hội Điện Ḥn Chén
diễn ra một năm hai kỳ. Tháng hai (lễ Xuân tế) và
tháng bảy (lễ Thu tế). Lễ hội điện Ḥn Chén được tổ
chức trên núi Ngọc Trản và
đ́nh
làng Hải Cát, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế.
Lễ hội suy tôn Thiên Y A Na Thánh Mẫu ( Mẹ xứ sở)
theo truyền thuyết Chăm là Thần đă sáng tạo ra đất
đai, cây cối, rừng gỗ quí... và dạy dân cách trồng
trọt. Đây là lễ hội dân gian ở Huế với nhiều nghi
thức hấp dẫn tạo nên một không khí tôn giáo thiêng
liêng giữa khung cảnh thiên nhiên thơ mộng, hữu t́nh
nên thu hút hàng vạn khách thập phương tham dự.
Lễ Hội Cầu Ngư Ở Thái
Dương Hạ: Hội của
nhân dân làng Thái Dương Hạ, huyện Phong Điền, tổ
chức vào ngày 12 tháng giêng âm lịch hàng năm, để
tưởng nhớ vị Thành Hoàng của làng là Trương Quư Công
(biệt danh của Trương Thiều), người gốc miền Bắc, có
công dạy cho dân nghề đánh cá và buôn bán ghe mành.
Đặc biệt cứ 3 năm một lần làng tổ chức đại lễ rất
linh đ́nh, có tổ chức các tṛ diễn tả những sinh
hoạt nghề biển. Tṛ diễn "bủa lưới" là tṛ diễn
tŕnh nghề đậm đ
à
tính chất lễ nghi.
Hội Chợ Xuân Gia Lạc:
Chợ xuân Gia Lạc ở
làng Nam Phổ có từ thời Minh Mạng (1820 - 1840). Lúc
đầu chỉ là nơi trao đổi hàng hóa, vui chơi, sau thu
hút nhân dân quanh vùng đến để mua bán, rồi bày các
tṛ chơi dân gian. Do vậy, chợ Gia Lạc trở thành một
h́nh thức hội chợ xuân vui chơi, chợ phiên trong
ngày Tết. Chợ họp từ ngày 1 đến ngày 3 tết, chợ bày
bán các loại sản phẩm của dân địa phương trong vùng.
Cả người bán lẫn người mua ăn nói, ứng xử rất lịch
sự, vui vẻ, không ồn ào, mang những nét văn hóa rất
Huế từ phong cách ăn mặc đến ngôn ngữ. Trong những
ngày này có các cuộc chơi bài cḥi, bài ghế, hát giă
gạo, bài thái...
Vật Vơ Làng Śnh:
Làng Śnh nằm ở bên bờ nam
sông Hương thuộc huyện Hương Phú. Hàng năm cứ đến
ngày 10 tháng 1 âm lịch, các ḷ vật trong vùng nô
nức kéo đến hội vơ vật làng Śnh để tranh tài, ngoài
trai tráng dân làng c̣n có hàng ngàn thanh niên nam
nữ từ các huyện và thành phố Huế kéo về. Vật vơ làng
Śnh là truyền thống thượng vơ đẹp của người dân Huế
trong nhiều thế kỷ qua.
Đua Trải:
Bơi trải là một lễ hội dân
gian được tổ chức vào đầu mùa xuân. Tục đua trải có
nguồn gốc cầu mưa từ thời cổ sơ của dân cư sống về
nông nghiệp. Nó là một bộ phận trong lễ nghi cầu mưa,
cầu ngư mong muốn có một vụ mùa thắng lợi. Tục đua
trải hàng năm được tổ chức tại sông Hương (bến Phu
Văn Lâu) trước đây do triều đ́nh tổ chức nay vẫn
được duy tŕ. Nghi lễ cúng bái trước cuộc đua được
tiến hành rất trang nghiêm. Vào cuộc đua cũng phải
thực hiện những qui định nghiêm ngặt. Đua trải cũng
là một cuộc tranh tài thể lực. Cuộc đua này rất hấp
dẫn, thể hiện tài năng khéo léo cùng kinh nghiệm của
những con người theo nghề sông biển ở Huế.