Huế

ĐỊA LƯ

Diện tích: 5.010 km2.
Dân số (2004): 1.088.134 người.
Tỉnh lỵ: Thành phố Huế.
Các huyện: Phong Điền, Quảng Điền, Hương Trà, Phú Vang, Hương Thủy, Phú Lộc, A Lưới, Nam Đông.
Dân tộc: Việt (Kinh), Tà ôi, Cà Tu, Bru - Vân Kiều, Hoa...

Phía Bắc, Thừa Thiên Huế giáp tỉnh Quảng Trị, phía Nam giáp thành phố Đà Nẵng, phía Tây Nam giáp tỉnh Quảng Nam, phía Tây dựa vào dăy Trường Sơn chính là biên giới Việt - Lào, phía Đông trông ra biển. Cách Hà Nội 660 km (413 miles), cách thành phố Sài G̣n 1.080 km (675 miles).

Địa h́nh Thừa Thiên Huế có cấu tạo dạng bậc khá rơ rệt. Địa h́nh núi chiếm khoảng 1/4 diện tích, từ biên giới Việt - Lào và kéo dài đến thành phố Đà Nẵng. Địa h́nh trung du chiếm khoảng 1/2 diện tích, độ cao phần lớn dưới 500 m (1,500 ft), có đặc điểm chủ yếu là đỉnh rộng, sườn thoải và phần lớn là đồi bát úp, với chiều rộng vài trăm mét. Đồng bằng Thừa Thiên Huế điển h́nh cho kiểu đồng bằng mài ṃn, tích tụ, có cồn cát, đầm phá. Diện tích vùng đồng bằng chiếm khoảng 1.400 km2 (547 square miles).

Hầu hết các sông lớn ở Thừa Thiên Huế đều bắt nguồn từ dăy núi Trường Sơn, chảy ngang qua đồng bằng, xuống đầm phá, đổ ra biển như sông Ô Lâu, sông Bồ, sông Hương, sông Truồi, sông Cầu Hai... Trong đó sông Hương là con sông lớn nhất có diện tích lưu vực 300 km2 (117 square miles).

Bờ biển dài 120 km (75 miles), có cảng Thuận An và Vịnh Chân Mây với độ sâu 18 - 20 m (54 - 60 ft), có khả năng xây dựng cảng nước sâu. Sân bay Phú Bài nằm trên đường quốc lộ 1A và đường sắt xuyên Việt chạy lục tỉnh. Giao thông đường bộ, đường sắt, đường hàng không và đường thủy đều thuận lợi.

Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa cho nên thời tiết diễn ra theo chu kỳ 4 mùa, mùa xuân mát mẽ, ấm áp; mùa hè nóng bức; mùa thu dịu dàng và mùa đông gió rét. Nhiệt độ trung b́nh cả năm 25 ° C. Số giờ nắng cả năm là 2000 giờ. Mùa du lịch đẹp nhất từ tháng 11 năm trước đến tháng 4 năm sau.

Thừa Thiên Huế có đặc thù ưu việt đó là sự đa dạng của cảnh quan thiên nhiên cộng với yếu tố nhân tạo đă tạo ra cho Thừa Thiên Huế một nét đẹp hài ḥa, phản ánh đầy đủ những thắng cảnh của một Việt Nam thu nhỏ. Sông Hương chảy giữa ḷng thành phố, những khu vườn xum suê, những ḍng kênh bao quanh, những đồi thông soi bóng xuống những hồ nước trong xanh, trải rộng, những băi tắm Thuận An, Cảnh Dương, Lăng Cô nước trong, cát mịn. Tựa lưng vào dăy Trường Sơn hùng vĩ, Thừa Thiên Huế tự hào có khu nghỉ mát lư tưởng Bạch Mă đă từng được so sánh với các khu nghỉ mát độc đáo của Đông Dương.

Thừa Thiên Huế là một vùng đất cổ. Vào thế kỷ 13 vùng đất thơ mộng này đă ḥa nhập vào Đại Việt bởi là quà tặng của Vua Chiêm Thành khi cưới công chúa Huyền Trân nhà Trần. Phong cảnh tươi đẹp, địa h́nh hiểm trở tạo cho Huế có một vị trí đặc biệt trong lịch sử Việt Nam. Nơi đây đă được chúa Nguyễn Hoàng chọn làm Kinh Đô xứ Đàng Trong (1558), vua Quang Trung chọn làm Kinh Đô triều đại Tây Sơn (1788 - 1802), vua Gia Long chọn làm Kinh Đô triều Nguyễn (1802 - 1945). Trong hơn 400 năm, Huế là trung tâm chính trị, văn hóa của nhà nước Việt Nam. Chính v́ vậy, nơi đây c̣n lưu giữ hàng trăm di tích lịch sử, văn hóa mà nổi bật nhất là các cung điện, lăng tẩm của các vua chúa nhà Nguyễn. Với các di tích đó, Huế đă được công nhận là di sản văn hóa thế giới (ngày 11/12/1993).

Tiềm năng du lịch nổi bật của Huế là quần thể các di tích văn hóa Thừa Thiên Huế vừa được UNESCO công nhận là di sản văn hóa nhân loại với trên 300 công tŕnh kiến trúc bao gồm hệ thống thành quách, cung điện, lăng tẩm của các vua triều Nguyễn; các kiến trúc cung đ́nh, kiến trúc dân gian, các chùa chiền, miếu mạo, phủ đệ, hệ thống nhà vườn…

THẮNG CẢNH

Sông Hương: Du khách đă đến Huế th́ không ai bỏ qua chương tŕnh du thuyền trên sông Hương. Bởi Huế mà không có sông Hương th́ đâu c̣n Huế thơ, Huế mộng... Gọi là sông Hương v́ từ xa xưa, ḍng sông này đă chảy qua những cánh rừng nhiều thảo mộc có hương thơm ngào ngạt, nên khi vào Huế ḍng sông đem theo hương thơm của cây cỏ thiên nhiên. Với độ dài khoảng 80 km (50 miles). Sông Hương uốn lượn trong thành phố Huế như một sự sắp đặt để làm vui ḷng du khách. Thuyền sẽ đưa du khách dạo khắp kinh thành dưới các cầu Dă Viên, Phú Xuân, Tràng Tiền, đưa du khách lên thăm lăng Minh Mạng, Điện Ḥn Chén, chùa Thiên Mụ v.v.. Và xuôi về Thuận An tắm biển. Du khách thích tư duy, xin mời ngược ḍng sông lên chơi rừng thông Lăng Thiên Thọ mà nghe vi vút thông reo... Khi đêm về, dưới ánh sáng trăng, mặt sông như được dát bạc, giọng ḥ man mác cất lên, du khách hăy đón chén rượu từ tay cô gái Huế mà thưởng thức vị ngọt ngào trong tiếng đàn, giọng hát.

Thành Phố Huế: Huế là tỉnh lỵ của tỉnh Thừa Thiên Huế, một kinh đô cổ của Việt Nam c̣n tồn tại khá nhiều công tŕnh gần như nguyên dạng. Giá trị to lớn của Huế được thế giới biết đến chính là quần thể kiến trúc cung đ́nh, thành quách, đền miếu, lăng tẩm... của các vua chúa triều Nguyễn, được xây dựng công phu trong phong cảnh thiên nhiên hùng vĩ dọc hai bên bờ sông Hương. Nếu được so sánh, th́ có thể nói vịnh Hạ Long là sự kỳ diệu của thiên nhiên c̣n cố đô Huế là sản phẩm của sự sáng tạo của trí tuệ Việt Nam. Với những nét đặc sắc đó, tổng thể di tích cố đô Huế đă được UNESCO công nhận là di sản.

Núi Ngự B́nh: Núi c̣n có tên là Băng Sơn, cách kinh thành Huế khoảng 3 km (2 miles). Ngự B́nh là ngọn núi h́nh thang, cao 105 m (315 ft), đỉnh bằng phẳng. Nh́n từ xa, Ngự B́nh như bức b́nh phong che chở cho kinh thành Huế.

Cùng với sông Hương núi Ngự B́nh là quà tặng vô giá thứ hai của tạo hóa cho Huế, quyện vào nhau tạo nên vẻ sơn thủy hữu t́nh của Huế. Từ lâu, ngọn núi xinh đẹp này cùng với sông Hương trong xanh đă trở thành biểu tượng của thiên nhiên Huế. Người ta quen gọi Huế là xứ sở của sông Hương - núi Ngự.

Từ bao thế hệ, lớp lớp tao nhân mặc khách từng coi đây là chốn thưởng ngoạn thiên nhiên kỳ thú. Vào những ngày đẹp trời, đứng trên những Ngự B́nh, có thể thu vào tầm mắt toàn cảnh thành phố với cung điện nguy nga, mái chùa cổ kính và ḍng sông Hương xanh biếc uốn lượn quanh co. Ngay trước tầm mắt là khu đồi, là rừng thông bát ngát tiếp đến một rừng đồng bằng rộng lớn của các huyện: Hương Thủy, Phú Vang, Hương Trà cỏ cây xanh rờn... Xa hơn là dăy Trường Sơn trùng điệp một màu tím thẫm ẩn hiện sau những tầng mây bạc. Nh́n về phía Đông, dải cát trắng mờ phía xa cửa Thuận An với màu xanh thăm thẳm của biển Đông...

KINH TẾ

Người Kinh sinh sống đa số trong tỉnh, ngoài ra là một số đồng bào Thượng sắc tộc Pacoh và Khatu. Tôn giáo chính là đạo Phật, Thiên Chúa, thờ cúng Tổ Tiên và Thần Linh.

Hoa màu chính là lúa, trồng nhiều ở các vùng Phong Điền, Hương Trà, Hương Thủy, Phú Vang. Vài loại lúa quư như lúa An Cựu, thơm, hạt nấu không dính. Các loại hoa màu phụ như sắn, ngô, đậu nành, bo bo, khoai lang... trồng nhiều ở Quảng Điền, Phong Điền, Hương Trà. Loại cây kỹ nghệ có thuốc lá, tiêu, trà. Cây ăn trái gồm xoài, long nhăn, cam, thanh trà (thuộc loại bưởi), na, dưa hấu, vải.

Các khu rừng rậm có nhiều lâm sản khai thác như gỗ tre, nứa, lim, gụ, trắc mây, một số dược thảo, mật ong, sáp ong. Thú rừng cũng nhiều con như hổ, hươu, dê rừng, khỉ, vượn.

Biển có nhiều loại cá như cá nhám, cá thu, cá chim, mực, tôm, cá mú, cá đối... Tại các phá, đầm có nhiều tôm lớn, cá nước ngọt như cá chép, cá chẻm...

Kinh tế và thương mại của Huế tập trung vào những sinh hoạt buôn bán b́nh thường, không có ǵ quan trọng. Đất để trồng trọt rất ít, thường dùng để trồng cây ăn trái. Nhăn Huế ngon nổi tiếng.

Kinh tế và thương mại của Huế tập trung vào những sinh hoạt buôn bán b́nh thường, không có ǵ quan trọng. Đất để trồng trọt rất ít, thường dùng để trồng cây ăn trái. Nhăn Huế ngon nổi tiếng.

Chợ Đông Ba đem ra ngoài dại.
Cầu Trường Tiền đúc lại xi-mon.
Ôi người lỡ hội chồng con.
Về đây gá nghĩa vuông tṛn với ta.

Xưa, chợ Đông Ba ở ngay phía trước kinh thành Huế, sau khi quân Pháp xây ṭa khâm sứ bên cạnh, dân chúng ngầm tỏ ra bất măn bằng cách dời chợ ra gần cầu Trường Tiền để dễ dàng lui tới buôn bán. Những người yêu nước thường mượn h́nh ảnh các di tích và thắng cảnh ở Huế để đặt ra những câu thơ kêu gọi các sĩ phu tham gia cứu nước. Và sông Hương cũng nhập vào lời thơ kêu gọi thống nhất:

Tiếng hát ngư ông giữa sông Nhật Lệ.
Tiếng kêu đàn nhạn trên ánh Hoành Sơn.
Một ḿnh em ngồi giữa sông Hương.
Tiếng ca theo khúc đoạn trường ai nghe!

Nhưng tiểu thủ công nghệ của Huế nổi tiếng tinh xảo, nhất là các nghề chạm trổ điêu khắc. Ngoài ra, nói đến Huế là nói đến nghề làm nón. Chiếc nón lá bài thơ của đất Thần Kinh ai cũng biết, đă được ghi vào thi ca vần nhạc nước ta. Huế c̣n nổi tiếng v́ các món ăn, món quà đặc thù của địa phương. Kẹo mè sửng, bún ḅ Huế, nem, tré, bánh khoái, bánh ít ram, bánh bèo, bánh khói, bánh lá chả tôm, cơm nuốc, cơm âm phủ, cơm cháo hến... là những sản phẩm đặc biệt của thành phố này. Khu chợ Đông Ba nổi tiếng với nhiều hàng quán tấp nập người mua bán.
 

LỊCH SỬ

Đất Huế xưa thuộc bộ Việt Thường, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Sau một thời gian dài nước ta bị giặc chiếm đóng phía Bắc, một dân tộc sống từ lâu ở đây đă thành lập nước Chiêm Thành, làng Nguyệt Hàn là quốc đô Phật Thệ của Chiêm. Năm 1306, vua Chế Mân dâng hai châu Ô và châu Ri làm sính lễ xin cưới Huyền Trân Công Chúa. Vua Trần Anh Tông đổi châu Lư thành châu Hóa, châu Ô thành châu Thuận. Châu Hóa gồm Triệu Phong, Hải Lăng, Phong Điền; Châu Ô gồm Hương Trà, Quảng Điền, Ḥa Vang, Diên Phước. Cả hai châu đều thuộc về Thuận Hóa. Thời Minh thuộc, hai châu Thuận và Hóa nhập lại thành phủ Thuận Hóa. Đời Lê, vùng này là phủ Triệu Phong thuộc xứ Thuận Hóa. Năm 1687.Chúa Nguyễn Phúc Trân dựng phủ mới ở Phú Xuân. Đời Nguyễn Phúc Khoát là Chánh Dinh. Tỉnh Thừa Thiên lập từ đời Minh Mạng.

Đất thành phố Huế trước đây thuộc trấn Thuận Hóa. Năm 1558, chúa Nguyễn Hoàng vào trấn đóng nơi nầy, lập dinh ở làng Ái Từ, thuộc phủ Triệu Phong (tỉnh Quảng Trị ngày nay). Năm 1687, chúa Nguyễn Phúc Trân dựng phủ mới ở làng Phú Xuân (thuộc huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên, chỗ Đông Nam Kinh ngày nay).Vào thế kỷ thứ 17, người Âu Châu thường gọi Thuận Hóa là Singoa, Sinoa hay Senna. Đến năm 1744, Chúa Nguyễn Phúc Khoái lên làm vua, đổi phủ thành điện, xây tổng miếu để thờ các Chúa thời trước. Thời nội chiến giữa các nhà Trịnh, Nguyễn và Tây Sơn, Phú Xuân giữ vị trí chiến lược trên cục diện nước ta.

Năm 1774, đời Chúa Nguyễn Phúc Thuận, Chúa Trịnh Sâm ngoài Bắc cử Hoàng Ngũ Phúc đánh chiếm Phú Xuân. Hơn mười năm sau, Nguyễn Huệ giải phóng Phú Xuân năm 1786, lấy đất này làm bàn đạp hành quân ra Bắc và tiêu diệt quân Măn Thanh xâm lược năm 1789. Sau đó Quang Trung Nguyễn Huệ định xây dựng Nghệ An thành kinh đô, nhưng vẫn tái thiết và mở mang Phú Xuân để trông về miền Nam, nơi Nguyễn Nhạc thủ quân tại Qui Nhơn, Mặc cho Nguyễn Ánh trở về Gia Định xây dựng lại lực lượng. Phú Xuân trở thành kinh đô thực tế của Quang Trung và Quang Toản cho đến khi nhà Tây Sơn sụp đổ vào tay Nguyễn Ánh. Năm 1801, Nguyễn Ánh chiếm được Phú Xuân và sau khi toàn thắng đặt Huế làm kinh đô, gọi cố đô Thăng Long là Bắc Thành.

Tên gọi của Huế là do chữ Hóa của Thuận Hóa mà đọc trại ra. Kinh thành Huế được khởi đắp từ năm 1805. Lúc đầu được đắp bằng đất, đến năm 1818 mới xây bằng gạch ở mặt phía Nam và Tây, rồi đến mặt phía Bắc, mặt phía Đông hoàn thành vào năm 1821. Năm 1824, việc xây cất mới hoàn tất.

Khi quân Pháp xâm lăng nước ta, đất nuớc bắt đầu lâm vào cảnh lầm than, đen tối. Mọi quyết định quan trọng của triều đ́nh đều ảnh hưởng đến tương lai dân tộc. Triều đ́nh Tự Đức bấy giờ nhu nhược, không biết tính sao, chỉ chủ ḥa để thương lượng với giặc. V́ vậy mới có ḥa ước Nhâm Tuất 1862 nhường cho Pháp ba tỉnh miền Đông (Biên Ḥa, Gia Định, và Định Tường). Vận nước nguy như trứng chồng, triều đ́nh vẫn loay hoay đắp vá, tiến thoái bất thường, ngây thơ trước những gian manh của giặc. V́ vậy lại có ḥa ước Giáp Tuất 1874 nhường nốt ba tỉnh c̣n lại của Lục Tỉnh cho Pháp chiếm. Nói đến lịch sử của Huế là phải nhắc đến những biến động ở kinh đô vào thời Nguyễn và khi quân Pháp bắt đầu cai trị nước ta.

Vua Tự Đức mất vào tháng 7-1883, bất lực không con, đem cháu gọi bằng bác là Thụy Quốc Công lên kế vị, thành vua Dục Đức. Triều thần không phục, Dục Đức bị phế và giam ngục, một tuần sau mất. Người em út của Tự Đức là Lạng Quốc Công Hồng Dật được đưa lên thay là vua Hiệp Ḥa, nhưng ông cũng là nguời bạc nhược. Trong triều, người dũng cảm và nhiều quyền uy là Phụ Chính Tôn Thất Thuyết. Anh hùng Tôn Thất Thuyết sinh trưởng tại Huế, cùng giữ chức Phụ Chính với Nguyễn Văn Tường và Trần Tiến Thành coi việc trị nước. Trần Tiến Thành luôn luôn chủ ḥa nhưng ông Tôn Thất Thuyết khuyên triều đ́nh phải đánh. Ngày 17-8-1883, giặc Pháp đem thủy quân tấn công thành Trấn Hải ở cửa Thuận An, quan quân ta dốc ḷng quyết chiến nhưng bốn ngày sau thành vỡ. Giặc bắt triều đ́nh kư ḥa ước Quư Mùi (25-8-1883), chúng muốn chia nước ta để trị, đ̣i cai quản, bảo hộ, ngang nhiên cắt cho triều đ́nh mảnh đất con từ tỉnh Khánh Ḥa đến đèo Ngang để "cai trị"! Vua Hiệp Ḥa muốn được yên thân, dù có bị ngoại bang bảo hộ và chỉ là bù nh́n, nên ngầm thông đồng với giặc, Hiệp Ḥa bị giam và buộc uống thuốc độc ngày 30 tháng 11. Ngày 2-12-1883, con nuôi thứ ba của Tự Đức được đưa lên ngôi là vua Kiến Phúc th́ chỉ được sáu tháng cũng chết, h́nh như do Nguyễn Văn Tường đầu độc v́ Tường tư thông với một bà Học Phi bị vua biết.
 

DI TÍCH

Kinh Thành Huế: Phần kinh thành Huế c̣n lại đến ngày nay là được xây dựng từ năm 1805 thời vua Gia Long và hoàn thành vào năm 1832 thời vua Minh Mạng, trên khoảng diện tích 5,2 km2 (2,1 square miles) bên bờ bắc sông Hương. Kinh thành Huế được xây dựng theo kiến trúc của phương Tây kết hợp một cách tài t́nh với kiến trúc thành quách phương Đông. Kinh thành gồm ba ṿng thành: pḥng thành, hoàng thành và tử cấm thành.

Bên trong các lớp thành cao hào sâu là một tổng thể với hàng trăm công tŕnh kiến trúc lớn nhỏ. Tất cả những công tŕnh này được xây dựng xung quanh một trục chính, theo hướng nam bắc. Khởi đầu là Kỳ Đài (cột cờ), tiếp đến là Ngọ Môn, sân Đại Triều Nghi, điện Thái Ḥa, điện Cần Chánh, điện Càn Thành, điện Khôn Thái, điện Kiến Trung và chấm hết ở cửa Ḥa B́nh. Các công tŕnh kiến trúc c̣n lại được xây đăng đối ở hai bên đường trục.

Pḥng Thành là ṿng thành ngoài cùng có chu vi 9.950 m (29,850 ft), thành có 10 cửa đường bộ và 2 cửa đường thủy, thành dày 21 m (63 ft) có 24 pháo đài.

Hoàng Thành là ṿng thành thứ 2 c̣n có tên là đại nội, chu vi 2450 m (7,350 ft). Hoàng Thành có 4 cửa: Ngọ Môn (Nam), Ḥa B́nh (Bắc), Hiển Nhơn (Đông), Chương Đức (Tây). Ngọ Môn là cửa chính của Hoàng Thành, cửa này ngày xưa chỉ dành cho vua đi. Đây là một công tŕnh kiến trúc c̣n sót lại gần như nguyên vẹn.

Tử Cấm Thành là ṿng thành trong cùng có chu vi 1225 m (3,675 ft), có 7 cửa ra vào. Đây là nơi ở và làm việc của vua và gia đ́nh. Nơi đây được tách biệt với thế giới bên ngoài.

Ngọ Môn: Ngọ Môn là một công tŕnh kiến trúc bề thế dài 58 m (174 ft), rộng 27,5 m (82,5 ft) và cao 17 m (51 ft) gồm 3 tầng, là cửa chính của Hoàng Thành. Ngọ Môn có 5 cửa. Cửa chính giữa chỉ dành cho vua đi, cao 4,2 m (12,6 ft) rộng 3,7 m (11,1 ft), hai cửa liền kề là tả, hữu giáp môn dành cho các quan. Hai cửa ngoài cùng là tả, hữu dịch môn dành cho lính hầu và đoàn tùy tùng. Trên ṿm cổng là lầu Ngũ Phụng, nơi nhà vua ngự trong các dịp lễ. Đây c̣n là nơi cử hành lễ xướng danh các sĩ tử trúng tuyển trong các khoa thi hội, thi đ́nh trước khi đem yết bảng ở Phú Văn Lâu. Suốt thời nhà Nguyễn, chỉ khi nào vua đi hoặc tiếp các sứ thần th́ cửa Ngọ Môn mới được mở.
 

LỄ HỘI

Lễ Hội Điện Ḥn Chén: Lễ hội Điện Ḥn Chén diễn ra một năm hai kỳ. Tháng hai (lễ Xuân tế) và tháng bảy (lễ Thu tế). Lễ hội điện Ḥn Chén được tổ chức trên núi Ngọc Trản và đ́nh làng Hải Cát, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên Huế. Lễ hội suy tôn Thiên Y A Na Thánh Mẫu ( Mẹ xứ sở) theo truyền thuyết Chăm là Thần đă sáng tạo ra đất đai, cây cối, rừng gỗ quí... và dạy dân cách trồng trọt. Đây là lễ hội dân gian ở Huế với nhiều nghi thức hấp dẫn tạo nên một không khí tôn giáo thiêng liêng giữa khung cảnh thiên nhiên thơ mộng, hữu t́nh nên thu hút hàng vạn khách thập phương tham dự.

Lễ Hội Cầu Ngư Ở Thái Dương Hạ: Hội của nhân dân làng Thái Dương Hạ, huyện Phong Điền, tổ chức vào ngày 12 tháng giêng âm lịch hàng năm, để tưởng nhớ vị Thành Hoàng của làng là Trương Quư Công (biệt danh của Trương Thiều), người gốc miền Bắc, có công dạy cho dân nghề đánh cá và buôn bán ghe mành. Đặc biệt cứ 3 năm một lần làng tổ chức đại lễ rất linh đ́nh, có tổ chức các tṛ diễn tả những sinh hoạt nghề biển. Tṛ diễn "bủa lưới" là tṛ diễn tŕnh nghề đậm đà tính chất lễ nghi.

Hội Chợ Xuân Gia Lạc: Chợ xuân Gia Lạc ở làng Nam Phổ có từ thời Minh Mạng (1820 - 1840). Lúc đầu chỉ là nơi trao đổi hàng hóa, vui chơi, sau thu hút nhân dân quanh vùng đến để mua bán, rồi bày các tṛ chơi dân gian. Do vậy, chợ Gia Lạc trở thành một h́nh thức hội chợ xuân vui chơi, chợ phiên trong ngày Tết. Chợ họp từ ngày 1 đến ngày 3 tết, chợ bày bán các loại sản phẩm của dân địa phương trong vùng. Cả người bán lẫn người mua ăn nói, ứng xử rất lịch sự, vui vẻ, không ồn ào, mang những nét văn hóa rất Huế từ phong cách ăn mặc đến ngôn ngữ. Trong những ngày này có các cuộc chơi bài cḥi, bài ghế, hát giă gạo, bài thái...

Vật Vơ Làng Śnh: Làng Śnh nằm ở bên bờ nam sông Hương thuộc huyện Hương Phú. Hàng năm cứ đến ngày 10 tháng 1 âm lịch, các ḷ vật trong vùng nô nức kéo đến hội vơ vật làng Śnh để tranh tài, ngoài trai tráng dân làng c̣n có hàng ngàn thanh niên nam nữ từ các huyện và thành phố Huế kéo về. Vật vơ làng Śnh là truyền thống thượng vơ đẹp của người dân Huế trong nhiều thế kỷ qua.

Đua Trải: Bơi trải là một lễ hội dân gian được tổ chức vào đầu mùa xuân. Tục đua trải có nguồn gốc cầu mưa từ thời cổ sơ của dân cư sống về nông nghiệp. Nó là một bộ phận trong lễ nghi cầu mưa, cầu ngư mong muốn có một vụ mùa thắng lợi. Tục đua trải hàng năm được tổ chức tại sông Hương (bến Phu Văn Lâu) trước đây do triều đ́nh tổ chức nay vẫn được duy tŕ. Nghi lễ cúng bái trước cuộc đua được tiến hành rất trang nghiêm. Vào cuộc đua cũng phải thực hiện những qui định nghiêm ngặt. Đua trải cũng là một cuộc tranh tài thể lực. Cuộc đua này rất hấp dẫn, thể hiện tài năng khéo léo cùng kinh nghiệm của những con người theo nghề sông biển ở Huế.

Trở Lại

     -o0o-

 

Xin gởi bài mới và ư kiến đóng góp về Tạng Thư Phật Học qua địa chỉ email: tangthuphathoc@gmail.com