Hà Nội

ĐỊA LƯ

Diện tích: 918,1 km2.
Dân số (2004): 2.840.174 người.
Các quận: Hoàn Kiếm, Ba Đ́nh, Đống Đa, Hai Bà Trưng, Hồ Tây, Thanh Xuân, Cầu Giấy.
Các huyện: Gia Lâm, Đông Anh, Thanh Tŕ, Từ Liêm và Sóc Sơn.
Hà Nội nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng, phía bắc giáp tỉnh Thái Nguyên, phía nam giáp tỉnh Hà Tây, phía đông và đông nam giáp tỉnh Bắc Ninh và Hưng Yên và phía tây giáp tỉnh Hà Tây.

Thành phố Hà Nội ở vị trí từ 20 độ 25 phút đến 21 độ 23 phút vĩ độ bắc và từ 105 độ 15 phút đến 106 độ 03 phút kinh độ đông. Hà Nội nằm ở vùng khí hậu nhiệt đới có gió mùa. Nếu phân chia thật chi tiết và tinh tế, Hà Nội có đủ bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông. Nhưng để giúp người xa dễ nhận biết khí hậu Hà Nội khi chuẩn bị đến thủ đô này, có thể tạm chia thành hai mùa chính là mùa khô và mùa mưa. Mùa khô từ tháng 10 năm trước đến tháng 4 năm sau, đây là thời kỳ giá lạnh, không mưa to. Từ tháng 1 đến tháng 3 vẫn có giá lạnh nhưng v́ là tiết xuân nên có mưa nhẹ (mưa xuân) đủ độ ẩm cho cây cối đâm chồi nảy lộc. Từ tháng 5 đến tháng 9 là mùa nóng có mưa to và băo. Trong các tháng 8, 9, 10, Hà Nội có những ngày thu. Mùa thu Hà Nội trời trong xanh, gió mát. Những ngày cuối thu se se lạnh và nhanh chóng ḥa nhập vào mùa đông.

Nhiệt độ trung b́nh mùa đông là 17,2
° C (lúc thấp nhất xuống tới 2,7° C). Trung b́nh mùa hạ: 29,2° C (lúc cao nhất đến 42,8° C). Nhiệt độ trung b́nh cả năm: 23,2° C. Mưa trung b́nh hàng năm: 1.800 mm.

SÔNG: Là vùng đất cổ, Hà Nội được các sông Hồng và các phụ lưu bồi đắp tạo nên, do đó Hà Nội gắn bó với sông Hồng mật thiết như con với mẹ. Xưa kia người ta gọi sông Hồng là sông Cái - sông Mẹ. Tên gọi Hà Nội là vùng đất có ư nghĩa bên trong sông. Đoạn sông Hồng ôm lấy Hà Nội dài gần 100 km (63 miles) chiếm 1/5 chiều dài của sông Hồng trên đất Việt Nam.

Các sông chảy qua Hà Nội là: sông Đuống, Cầu, Cà Lồ, Đáy, Nhuệ, Tích, Tô Lịch và sông Kim Ngưu. Đặc biệt sông Tô Lịch được nhắc nhiều trong văn chương Hà Nội xưa như là con sông đẹp chảy trong ḷng thành phố. Ngày nay sông Tô Lịch và sông Kim Ngưu chỉ có tác dụng như là một hệ thống thoát nước cho thành phố.

HỒ: Hà Nội là thành phố của những hồ đẹp. Những hồ nổi tiếng đă đi vào thơ văn như hồ Hoàn Kiếm (hồ Gươm), Hồ Tây, Trúc Bạch, Thiền Quang, Bảy Mẫu, Thủ Lệ, hồ Giảng Vơ... đó là những lá phổi xanh của thành phố với vườn hoa và hàng hàng, lớp lớp cây xanh tạo cho thành phố nguồn sinh lực trong thiên nhiên tươi mát.

GIAO THÔNG: Hiện nay Hà Nội đang chuyển ḿnh cùng cả nước. Hàng loạt phố mới, với những đại lộ, đường cao tốc ra đời. Nhiều khách sạn, công sở cao tầng hiện đại, đan xen với các khu phố cổ tạo nên một dáng vẻ mới cho thành phố 1000 năm. Sân bay quốc tế Nội Bài cách trung tâm thành phố khoảng 35 km (21.9 miles). Từ sân bay về thành phố khoảng 40 phút xe ca.

ĐƯỜNG SẮT: Từ ga Hà Nội tỏa đi các nhánh đường sắt: Hà Nội - Lạng Sơn; Hà Nội - Thái Nguyên; Hà Nội - Lào Cai; Hà Nội - Hải Pḥng; Hà Nội - Sài G̣n.

ĐƯỜNG BỘ: Từ các bến xe phía Nam: Kim Mă, Gia Lâm tỏa đi khắp các nơi trên toàn quốc bằng các tuyến quốc lộ A1 xuyên Bắc - Nam; quốc lộ 2: đi Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang; quốc lộ: 3 đi Thái Nguyên, Cao Bằng; quốc lộ 5: đi Hải Pḥng; quốc lộ 6 đi Ḥa B́nh, Sơn La, Lai Châu; quốc lộ 32 đi Sơn Tây.

ĐƯỜNG THUỶ: Bến phà Đen có tàu thủy đi Hưng Yên, Nam Định, Thái B́nh, Việt Tŕ; bến Hàm Tử Quan có tàu thủy đi Phả Lại.

THẮNG CẢNH

Phố cổ - phố nghề: Đặc điểm chung của các phố cổ Hà Nội là nhiều tên phố bắt đầu bằng chữ "Hàng", tiếp đó là một từ chỉ một nghề nghiệp nào đó. Thí dụ Hàng Đào, Hàng Đường, Hàng Mă, Hàng Thiếc... Du khách mới đến Hà Nội, xin mời dạo qua khu phố cổ - phố nghề để thấy được nét khác biệt giữa Hà Nội và các thủ đô các nước mà du khách đă đi qua.

Từ phiùa bắc hồ Hoàn Kiếm (nơi có đài phun nước) du khách hăy đi bộ lần lượt qua các phố Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Đường là đến chợ Đồng Xuân. Phố Hàng Đào h́nh thành từ thế kỷ15, dân ở đây làm nghề nhuộm vải. Thời đó họ thường nhuộm màu đỏ, màu hồng, màu hoa đào... nên có tên gọi là Hàng Đào.

Từ đời Lê (thế kỷ15) nhiều người Trung Quốc được phép cư trú ở Thăng Long (Hà Nội), họ rủ nhau đến làm ăn buôn bán ở phố Hàng Ngang. Xưa kia ở hai đầu phố có dựng hai cổng chắn ngang đường, tối đến đóng lại. Do đó thành tên Hàng Ngang.

Như tên gọi, Hàng Đường có rất nhiều cửa hàng bán đường, mật, bánh kẹo... Sát với chợ Đồng Xuân là phố Hàng Mă. Mặt hàng truyền thống làm từ các loại giấy màu ở phố này gần như không thay đổi từ khi lập phố. Có khác chăng bây giờ nhiều chủng loại hàng hơn trước. Hàng năm vào dịp Tết Trung Thu của trẻ em (15/8 âm lịch) cả phố Hàng Mă trở thành một chợ bán đồ chơi muôn màu sắc: đèn ông sao, đèn xếp, đèn kéo quân, đầu sư tử...

Từ đầu phố Hàng Mă đi thẳng sang phố Hàng Chiếu (nơi bán nhiều loại chiếu bằng cói) là đến được ô Quan Chưởng (cửa Đông Hà) di tích khá nguyên vẹn của một trong 36 phố phường Thăng Long xưa.

Một phố rất điển h́nh là Hàng Thiếc, đến đây bạn sẽ nghe râm ran tiếng búa gơ vào những mảnh tôn, mảnh thiếc trắng lấp lánh. Những người thợ thiếc ở phố này suốt ngày cặm cụi làm các đồ dùng từ nhỏ đến lớn như chân đèn, thùng, chậu, gáo múc nước, ḥm, bể nước... Người các tỉnh cũng về Hàng Thiếc buôn hàng đưa về bán ở các địa phương.

Hồ Hoàn Kiếm: Hồ nằm ở vị trí trung tâm thành phố nên được ví như một lẵng hoa giữa ḷng Hà Nội. Hồ gắn với truyền thuyết trả gươm: vua Lê Thái Tổ có một thanh gươm quư luôn ở bên ḿnh ông suốt 10 năm kháng chiến chống quân Minh (thế kỷ 15). Sau chiến thắng, một lần vua Lê du thuyền trên bờ hồ bỗng có con rùa nổi lên, vua rút gươm báu ra trỏ cho quân sĩ biết th́ rùa liền đớp ngay thanh gươm rồi lặn xuống nước. Nghĩ rằng trước đây Thần đă giúp mang gươm cho ḿnh đánh thắng giặc, nay đất nước trở lại thanh b́nh, Thần lấy lại gươm, nên vua đặt tên cho hồ là Hoàn Kiếm (trả lại gươm).

 

Hồ Tây - Đường Thanh Niên (Đường Cổ Ngư): Đây là một quần thể cảnh đẹp ở phía tây thành phố. Có thể ví đường Thanh Niên như một cái cầu bắt ngang hai hồ nước, một bên là Hồ Tây, một bên là hồ Trúc Bạch. Đoạn đường này dài 992 m (2,976 ft), đường đôi, phân cách là một hàng cây xanh, hai bên đường là những hàng cây phượng, cây liễu, cây bằng lăng...

Nếu đứng ở đầu đường nơi có đền Quan Thánh th́ Hồ Tây ở bên tay trái. Hồ rộng khoảng 500 hécta, lớn nhất trong các hồ của Hà Nội. Con đường ṿng quanh hồ dài 17 km (10.6 miles) qua các làng hoa Nghi Tàm, Tây Hồ, vườn đào thôn Nhật Tân và các đ́nh chùa đẹp nổi tiếng như phủ Tây Hồ, chùa Kim Liên... Từ xưa các triều đại vua chúa phong kiến đă xây dựng cung điện quanh hồ làm nơi nghỉ ngơi hưởng lạc. Ngày nay, Hồ Tây nằm trong quy hoạch xây dựng làng du lịch của Hà Nội.

Hồ Trúc Bạch: Hồ cách Hồ Tây bởi con đường Thanh Niên. Thế kỷ 18, chúa Trịnh Giang cho xây một cung nghĩ mát gần hồ gọi là viện Trúc Lâm. Sau viện này trở thành nơi an trí những cung nữ có tội buộc phải tự dệt lụa để nuôi thân. Lụa do cung nữ dệt rất đẹp, nổi tiếng khắp kinh thành, có tên là lụa làng Trúc, v́ vậy hồ được gọi là hồ Trúc Bạch.

Ven bờ hồ Trúc Bạch cũng có nhiều di tích lịch sử và công tŕnh kiến trúc đặc sắc. Mặt hồ phẳng lặng, êm ả. Phía tây nam hồ là đền Quan Thánh, bờ đông có chùa Châu Long, góc bắc hồ có một đảo nhỏ trên đó có ngôi đền Cẩu Nhi.

Chợ Đồng Xuân: Trong số hàng chục chợ ở Hà Nội như chợ Mơ, chợ Hôm, chợ Cửa Nam, chợ Ngọc Hà... th́ chợ Đồng Xuân là lớn nhất. Chợ ra đời từ năm 1889 trên địa phận phường Đồng Xuân. Ban đầu chợ họp ngoài trời, sau được xây thành chợ với năm cầu khung sắt, lợp tôn tráng kẽm, dài 52 m (1,56 ft), cao 19 m (57 ft). Nằm gần ga đầu cầu Long Biên bên sông Hồng, chợ Đồng Xuân là điểm thuận lợi để hàng hóa bốn phương dồn về đây cũng như từ đây tỏa đi các nơi. Ở chợ Đồng Xuân hầu như có đầy đủ tất cả các mặt hàng, ngành hàng phục vụ sinh hoạt và đời sống. Chợ Đồng Xuân là chợ bán buôn lớn nhất của miền bắc.

Ngày nay chợ Đồng Xuân được xây dựng lại với quy mô lớn hơn gồm 3 tầng hiện đại, khang trang, rộng răi nhưng vẫn giữ một phần kiến trúc của chợ cũ.

Vườn Thú Thủ Lệ: Nằm ở phía tây thành phố trên một khu đất rộng 20 ha, có hồ nước, thế đất tự nhiên như h́nh rồng lượn khá đẹp mắt. Vườn thú được chia làm nhiều khu. Khu ḅ sát có trăn, rắn, kỳ đà v.v.. ở ngay sát hồ nước. Khu chim muông có công , trĩ, uyên ương, hạc, c̣, họa mi, hoàng yến v.v.. Khu thú dữ có hổ, báo, voi, sư tử v.v.. Đáng kể hơn là có gần 40 loài động vật trong sách đỏ của Việt Nam và một số động vật quư là tặng phẩm của các nước.

Làng Gốm Bát Tràng: Làng Bát Tràng thuộc huyện Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội nằm trên bờ sông Hồng, là một làng nghề truyền thống nổi tiếng từ xa xưa về các loại gốm sứ thủ công. Gốm Bát Tràng làm từ một loại đất sét đặc biệt. Từ loại đất sét này, người thợ dùng bàn xoay thủ công để tạo h́nh các sản phẩm sau đó phơi sấy cho khô rồi vẽ hoa, tráng men và nung trong các ḷ nhỏ. Nhiệt độ của ḷ nung ảnh hưởng đến màu sắc của sản phẩm. Sản phẩm của gốm Bát Tràng là các loại bát điă, chén, lọ b́nh, lư hương... Điều đặc biệt là chất liệu men của các sản phẩm có độ bóng, sâu mịn và đều, cách trang trí, vẽ họa tiết trên các loại sản phẩm này rất độc đáo.

Ngày nay, đến làng gốm Bát Tràng vào bất cứ thời điểm nào trong ngày cũng thấy làng quê này luôn sôi động. Từng đoàn xe tấp nập chở nguyên vật liệu vào làng và rồi lại chở sản phẩm đi tiêu thụ, và có cả đoàn khách du lịch đến tham quan, mua quà lưu niệm. Gốm sứ Bát Tràng không những nổi tiếng ở trong nước mà cả ở nhiều nước trên thế giới. Các sản phẩm đạt chất lượng cao, mẫu mă đẹp, độc đáo không thua kém gốm sứ Trung Quốc.

 

KINH TẾ

Dân chúng cư ngụ ở Hà Nội rất đông, theo đạo Phật và Thiên Chúa. Nhiều chùa nổi tiếng được các triều đại ngày xưa hoặc dân chúng xây ở thành phố này.

Nền kinh tế quan trọng trước đây của miền Bắc tập trung tại Hà Nội, rất nhiều nhà máy, xưởng kỹ nghệ thành lập ở đây như chế biến gang, sắt để làm máy móc, gạch, xà pḥng, nấu rượu, thuốc lá, bao diêm, cung cấp điện cho Hà Nội và một số tỉnh khác...

Nói đến cảnh buôn bán của dân chúng Hà Nội, người ta đặc biệt nói đến sinh hoạt của 36 phố phường, mỗi phố phường bán một loại hàng riêng biệt như: Các phố Hàng Than, Hàng Bạc, Hàng Gai, Hàng Khay, Hàng Quạt, Hàng Chiếu, Hàng Đào, Hàng Đường, Hàng Dầu, Hàng Bè, Hàng Ngang, Hàng Bông, Hàng Giấy, Hàng Cót, Hàng Gà, Hàng Ḥm, Hàng Hài, Hàng Mành, Hàng Lờ... Các nơi buôn bán tấp nập khác như chợ Đồng Xuân, phố Sinh Từ, phố Tràng Tiền, khu Cửa Nam...
 

LỊCH SỬ

Đất Hà Nội xưa thuộc bộ Giao Chỉ, một trong 15 bộ của nhà nước Văn Lang. V́ hoàn cảnh địa dư của nước ta ngày xưa, các triều đ́nh thường chọn Hà Nội làm đế đô. Vào thế kỷ thứ 3, Hà Nội là Long Biên , lỵ sở của Giao Châu. Thời Đường, đất này thuộc một trong tám huyện thuộc Giao Châu. Năm 791, thứ sử Triệu Xương đắp thành Đại La bên bờ sông Tô Lịch. Năm 862, quân Nam Chiếu đánh Giao Châu, nhà Đường sai Thái Tập đem ba vạn quân sang chống giữ và quân Nam Chiếu rút lui. Qua năm sau, tháng giêng năm Quư Mùi 863, Nam Chiếu lại mang năm vạn binh sang đánh Long Biên, giết chết tướng nhà Đường là Nguyễn Duy Đức và chiếm được thành và tàn sát 15 vạn dân ta. Đến năm 866, nhà Đường sai Cao Biền dẹp giặc Nam Chiếu, giết được tướng giặc là Đoàn Tư Thiên và giải vây thành Đại La vào tháng mười âm lịch. Năm 867, Cao Biền sửa sang lại thành, mở rộng thêm ra; ngoài thành cho đắp con đường dài gần bảy cây số, cao hơn năm thước. Năm 960 đến năm 1009, Hà Nội là quận Giao Chỉ. Triều đ́nh và triều Tiền Lê đóng đô ở Hoa Lư.

Tháng bảy năm 1010, vua Lư Thái Tổ dời đô về thành Đại La. Sử viết rằng khi vua Lư Thái Tông vào thành Đại La thấy rồng hiện thành những đám mây lơ lững trên trời nên đổi thành là Thăng Long. Nhà Trần nối nghiệp nhà Hậu Lư từ năm 1225 đến 1400 cũng đóng đô tại Thăng Long. Quân Mông Cổ xâm lược nước ta đă chiếm thành Thăng Long hai lần vào những năm 1285 và 1287. Đời Lư, Trần trong thành Thăng Long có 13 trại, ngoài thành có 61 phường. Để chuẩn bị chiếm ngôi nhà Trần, năm Bính Tư 1396, Hồ Quư Ly ép vua Trần Thuận Tông phải bỏ thành Thăng Long, dời kinh về Tây Đô thuộc tỉnh Thanh Hóa, c̣n Thăng Long được gọi là Đông Đô. Sau đó nhà Hồ cũng đóng đô tại đây. Thời Minh thuộc Hà Nội là phủ lỵ của Giao Châu. Đến năm 1429 vua Lê Thái Tổ đánh đuổi xong giặc Minh, đóng đô ở Hà Nội và đặt tên là Đông Kinh. Dưới thời vua Lê Thái Tông, Đông Kinh là một phủ lỵ của hạt Phụng Thiên. Nhà Mạc sau khi giết chết vua Lê Chiêu Tông để cướp ngôi cũng đóng đô ở Hà Nội và gọi là Đông Kinh. Về sau vua Lê Trung Hưng đánh đuổi được nhà Mạc lại đóng đô ở Thăng Long. Đời vua Gia Long đất này là lỵ sở của bắc thàng tổng trấn và gọi là Long Thành.

Năm 1803, Long Thành được đắp lại theo kiểu tây phương và gọi lại là Thăng Long. Năm 1805 Thăng Long là phủ lỵ của phủ Hoài Đức. Phủ này gồm có hai huyện là Thọ Xương (8 tổng, 193 phường, thôn) và huyện Vĩnh Thuận (5 tổng, 54 phường, thôn, trại). Đến năm 1831, được đổi thành tỉnh lỵ Hà Nội. Năm 1888, Hà Nội được nhà Nguyễn nhường làm nhượng địa. Kể từ năm 1902, Hà Nội là nơi đặt các cơ quan trung ương của quân Pháp. Sau đó, huyện Hoàn Long được sát nhập vào thành phố Hà Nội.

Lịch sử đấu tranh của Hà Nội đă chói lọi từ hơn 10 thế kỷ trước. Thời Đường thuộc, năm 791, anh hùng Phùng Hưng dựng cờ khởi nghĩa, đem quân đi đánh chiếm Đô Hộ Phủ (làng Bích Câu), làm tên quan đô hộ là Cao Chính B́nh khiếp sợ sinh bịnh mà chết. Làng Cơ Sá, huyện Thọ Xương, là nơi sinh trưởng của anh hùng Lư Thường Kiệt, năm 1076 phá Tống, b́nh Chiêm.Vào thế kỷ thứ 13, đời Trần, giặc Mông Cổ ba lần đem quân tiến đánh nước ta nhưng đều bị bại. Trong ba lần đó, thế giặc hung hăn lắm, vua tôi đều phải rời thành Thăng Long t́m kế chống giặc. Bên cạnh vua lúc gian khổ luôn có Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cùng các danh tướng Trần Quang Khải, Trần Quốc Toản. Đuổi xong giặc, Thăng Long mở ba ngày hội "Thiên B́nh Diên Yến" vui sướng biết chừng nào. Đất Thăng Long là nơi sinh trưởng của anh hùng Trần Quư Khoách; khi giặc Minh sai Trương Phụ và Vương Hựu đánh nước ta, từ 1409 đến 1413, anh hùng Trần Quư Khoách và anh hùng Nguyễn Biểu, Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị khởi nghĩa đánh thắng quân giặc nhiều trận. Thời Minh thuộc, giặc cai trị tàn ác, muốn đồng hóa dân ta, bao nhiêu sách vở giá trị chúng mang về Tàu. Năm Bính Ngọ 1426, B́nh Định Vương Lê Lợi tiến quân ra Đông Đô, dân chúng Hà Nội và các nơi khác nô nức tham gia quân kháng chiến, đánh thắng khắp nơi, đuổi bọn Vương Thông về nước. Huyện Thọ Xương, làng Văn Chương là nơi sinh trưởng của vị vua anh hùng Lê Thánh Tông ( 1460-1497), con thứ tư của vua Lê Thái Tông; Ông là người thông minh, tài kiêm văn vơ, một vị minh quân trong lịch sử Việt Nam, dưới sự trị v́ của ông nước nhà phát triển đến mức cực thịnh. Vua là người đầu tiên cho vẽ bản đồ nước ta, sai Ngô Sĩ Liêm làm bộ "Đại Việt Sử Kư Toàn Thư" (chép việc từ đời Hồng Bàng đến đời vua Lê Thái Tổ), đặt bộ luật Hồng Đức để giữ yên trăm họ, mở rộng trường Thái Học, lập hội Tao Đàn phát triển văn chương.

Thời Tây Sơn, tháng 6 năm 1786, sau khi giải phóng Phú Xuân, anh hùng Nguyễn Huệ đă tiến quân vào Thăng Long trừ Vũ Văn Nhậm và tái lập Hà Bắc. Ngày 28-11-1788 gần 30 vạn quân Thanh tràn sang nước ta. Ngày 18-12-1788, Tôn Sĩ Nghị vào tới Thăng Long. Ngày 15-1-1789 (30 tháng chạp năm Mậu Thân) Quang Trung Hoàng Đế xuất quân từ Nghệ An ra miền bắc, cưỡi voi điều khiển quân chủ lực đi đầu đánh thẳng vào mặt nam thành Thăng Long, nơi Tôn Sĩ Nghị pḥng vệ kiên cố nhất. Mùng ba Tết Kỷ Dậu, quân ta dẹp Hạ Hồi, mùng năm quân ta chiếm Ngọc Hồi, rồi phá bung thàng Đống Đa. Cánh quân Điền Châu chết chật đường đi, tướng giặc Sầm Nghi Đống treo cổ chết. B́nh Nam Đại Tướng Quân nhanh chân rời khỏi Thăng Long mà quên cả ấn tín, mật chỉ. Trong tiếng quân reo ḥ phá vỡ thành Thăng Long, người dân Hà Nội luôn luôn nh́n thấy các danh tướng anh hùng như Vơ Văn Dũng, Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân, Đặng Văn Chân, Trần Quang Diệu, anh thư Bùi Thị Xuân... đi tiên phong. Chiến sự xảy ra trong năm ngày, quân Thanh hoàn toàn tan ră. Mùng năm Tết Quang Trung vào tới Thăng Long cho ba quân làm lễ khai hạ. Sau đó cho đắp thành Hà Nội gọi là Bắc Thành.

Năm 1872, quân Pháp cử Francis Gamier đem quân từ Gia Định ra, muốn đóng quân trong thành Hà Nội. Nguyễn Tri Phương không cho, nên chúng mang quân đóng ở Trương Thi. Ngày 20-1-1873, quân Pháp tấn công thành Hà Nội. Nguyễn Tri Phương cùng con là pḥ mă Nguyễn Lâm lên mặt thành đốc quân chống giữ. Nhưng khoảng sau một giờ, thành vỡ, anh hùng Nguyễn Lâm tử trận. C̣n anh hùng Nguyễn Tri Phương bị thương nặng, quân Pháp đưa ông xuống tàu, nhưng ông nhất định không cho giặc buộc thuốc rồi nhịn ăn chết theo thành. Tháng 2 năm 1882, quân Pháp cử Henri Rivieres đánh Hà Nội lần thứ hai. Lúc tám giờ sáng ngày 25-4-1882 quân Pháp tấn công Hà Nội gặp phải sự chống trả dữ dội của quân ta dưới sự điều động của Tổng Đốc Hoàng Diệu. Nhưng v́ vũ khí thô sơ nên không giữ nổi thành, anh hùng thảo tờ biểu tạ tội với vua rồi lấy khăn bịt đầu thắt cổ tự tử.

Tháng 5-1907, một số nhà yêu nước như Lương Văn Cang, Nguyễn Quyền, Lương Trúc Đàm, Đỗ Trung Thiết, Nguyễn Hùng Hương... thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục tại Hà Nội để dạy học mở mang dân trí, diễn thuyết truyền bá tư tưởng đấâu tranh. Phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục phát động rộng răi trong cả nước. Ngày 27-6-1908, các nghĩa quân Yên Thế và Việt Nam Quang Phục Hội phối hợp với binh lính Việt đầu độc quân Pháp trong thành Hà Nội. Nhưng công việc không thành v́ nội gián, quân Pháp bị đầu độc nhưng không nặng. Giặc khủng bố ngay, đem chém cả Nguyễn Văn Phúc, Nguyễn Chi B́nh, Nguyễn Cốc, Đặng Nhân, Nguyễn Đức A, Cai Rôn, Đỗ Đảm, Hai Hiền, bà hàng cơm Nguyễn Thị Ba... tại Băi Gáo, rồi đem bêu đầu ở chợ Mơ, Ô Cầu Rền, Ô Cầu Giấy. Giặc c̣n chụp h́nh đầu những người yêu nước in trên bưu thiếp phổ biến khắp nơi nhằm khủng bố tinh thần dân chúng ḥng ngăn chặn phong trào kháng Pháp. Cùng năm 1908, Quang Phục Hội hoạt động mạnh, tổ chức chuyển vũ khí, đạn dược về nước, ngày 16 - 4, nghĩa quân ném bom tại khách sạn Hà Nội giết nhiều sĩ quan Pháp. Quân Pháp lại thẳng tay đàn áp với các án tử h́nh, giam cầm, đày ải, trời Hà Nội như có đại tang. Các anh hùng Đỗ Chân Thiết, Phạm Văn Tráng, Nguyễn Văn Túy, Nguyễn Khắc Cần, Phạm đế Quư, Vũ Ngọc Thụy, Phạm Hoàng Quế, Phạm Hoàng Triết bị giết tại Hà Nội. Anh hùng Lương Văn Cang bị đày đi Nam Vang. Năm 1915 anh hùng Lương Ngọc Quyến bị tên phản quốc Nguyễn Bá Trác đă chỉ điểm cho quân Pháp bắt tại Hà Nội.

Năm 1925 anh hùng Phan Bội Châu bị bắt tại Thượng Hải đem về Hà Nội kết án. Cuối năm 1925 đó, Nam Đồng Thư Xá được thành lập do Phạm Tuấn làm chủ nhiệm, chuyên xuất bản sách yêu nước, gây ảnh hưởng sâu rộng trong giới trí thứ, sinh viên học sinh... Ngày 13-6-1927, anh hùng Lương Văn Can từ trần, sau khi quân Pháp thả ông về năm 1924. Ngày 15-12-1927, Việt Nam Quốc Đảng ra đời tại làng Thể Giao, Hà Nội, do anh hùng Nguyễn Thái Học lănh đạo, hoạt động sâu rộng trong quần chúng. Ngày 9-2-1929, tên mộ phu gian ác Ba in bị giết chết tại chợ Hôm. Tháng 2-1930, khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái bùng nổ th́ ban ám sát của Đặng Trần Nghiệp tổ chức ném bom các cơ quan tổ chức trong thành phố. Việc khởi nghĩa bị thất bại, vào tháng 12-1930 và tháng 6-1931, quân Pháp xử tử các anh hùng Đặng Trần Nghiệp, Lương Ngọc Tốn, Nguyễn Văn Nho, Nguyễn Quang Triều, Nguyễn Minh Luân, Nguyễn Trọng Bằng, Trần Văn Khuê, Lê Hữu Cảnh, Nguyễn Xuân Huân tại ngục thất Cửa Ḷ. Những tấm gương trung liệt v́ nước v́ dân nói trên đă làm sáng ngời tranh đấu sử Việt.
 

DI TÍCH

Thành Cổ Loa Và Đền Thờ An Dương Vương: Đây là thành cổ vào bậc nhất Việt Nam được vua Thục An Dương Vương xây từ thế kỷ 3 trước công nguyên để làm kinh đô nước Âu Lạc (tên nước Việt Nam thời đó). Thành được xây dựng kiểu ṿng ốc (nên gọi là Loa Thành) gồm 3 ṿng: thành ngoài, thành giữa và thành trong. Dưới thành ngoài là hào sâu ngập nước thuyền bè đi lại được. Từ trung tâm thành phố, đi 18 km (11.25 miles) đến xă Cổ Loa thuộc huyện Đông Anh, bạn sẽ t́m thấy vết tích c̣n lại của 3 ṿng thành xưa bằng đất và nơi các nhà khảo cổ t́m được hàng vạn mũi tên đồng, lưỡi cày, ŕu sắt, xương thú vật...

Trong khu vực thành c̣n có đ́nh làng Cổ Loa, am thờ công chúa Mỵ Châu và đền thờ An Dương Vương - ông vua rất mực yêu thương con gái Mỵ Châu, nhưng v́ mất cảnh giác ông đă để thành Cổ Loa trở nên một sân khấu của tấn bi kịch nước mất, nhà tan.

Chùa Trấn Quốc: Chùa nằm trên một ḥn đảo của Hồ Tây, là một ngôi chùa cổ nhất Việt Nam, được khởi dựng từ năm 541. Đứng ở cuối đường Thanh Niên đă nh́n thấy nhiều ngọn tháp nhấp nhô trên mặt hồ. Trong chùa có pho tượng quư Phật Thích Ca nhập Niết Bàn, kiệt tác của nghệ thuật tạc tượng Việt Nam.

Chùa Một Cột: Tên chữ là chùa Diên Hựu (nghĩa là phúc lành lâu dài). Chùa ở quận Ba Đ́nh xây dựng năm 1049 thời vua Lư Thái Tông. Tương truyền khi ấy vua Lư Thái Tông đă cao tuổi mà chưa có con trai nên nhà vua thường đến các chùa cầu tự. Một đêm vua chiêm bao thấy Đức Phật Quan Âm hiện trên đài hoa sen ơ ûmột hồ nước h́nh vuông phía tây thành Thăng Long, tay bế đứa con trai đưa cho nhà vua. Ít lâu sau, Hoàng hậu sinh con trai. Nhà vua cho dựng chùa Một Cột có dáng dấp như đă thấy trong giấc mơ để thờ Phật Quan Âm. Chùa Một Cột tuy nhỏ, nhưng có kiến trúc độc đáo, được tạo dáng như một bông sen từ dưới nước lên.

Chùa Láng: Chùa được khởi dựng vào đời vua Lư Anh Tông (1138 -1175) tại làng Yên Lăng, huyện Từ Liêm, nay thuộc phường Láng, quận Đống Đa, Hà Nội. Chùa được xây theo kiểu " Nội Công Ngoại Quốc", tam quan 3 gian, lầu bát giác 4 gian. Các ngôi nhà chính đều gồm 9 gian v́ vậy chùa trông rất bề thế. Trong chùa c̣n lại nhiều đồ thờ cổ. Ở hậu cung ngoài các pho tượng Phật c̣n có tượng vua Lư Thần Tông (bằng gỗ), tượng Thiền Sư Từ Đạo Hạnh đan bằng mây, ngoài quét sơn. hai dăy hành lang thờ 18 vị La Hán, có rất nhiều nét sinh động, ngồi thiền.

Chùa Láng đă qua nhiều lần trùng tu. Lần trùng tu lớn nhất vào năm 1656. Chùa Láng là một ngôi chùa có kiến trúc đẹp và bố cục của chùa tạo nên một không gian hài ḥa, sâu thẳm, tĩnh mịch, cổ kính uy nghi.

Chùa Liên Phái: Chùa ở trong ngơ Liên Phái, phố Bạch Mai, quận Hai BàTrưng, Hà Nội. Chùa lập vào năm 1726. Lúc mới xây dựng chùa có tên là Liên Hoa, sau đổi tên là Liên Tông và đến năm 1840 đổi tên là Liên Phái.

Trước cổng chùa có ngôi tháp Diệu Quang h́nh lục lăng cao 10 tầng có kiến trúc thanh nhă cổ kính. Trong tháp có hài cốt đă hỏa táng của vị sư tổ Diệu Quang cùng với 5 vị sư khác. Nhà bia có 34 tấm ghi sự tích chùa và các lần trùng tu của chùa. Qua sân rộng đến các nhà Bái Đường và Tam Bảo là nơi thờ Phật. Khu vườn tháp sau chùa gồm 9 ngôi tháp xây 3 hàng. Hàng giữa có tháp Cửu Sinh xây bằng đá, tương truyền đây là nơi táng hài cốt vị sư tổ thứ nhất Lâm Giác Thượng Sĩ. Tháp Cửu Sinh đă có trên 250 năm. Đây là ngôi tháp cổ nhất có trong khu vực nội thành Hà Nội. Ngoài ra chùa c̣n có một tháp cao 9 tầng kiến trúc đẹp, được xây vào năm 1890.

Chùa Kim Liên: Chùa được dựng trên đồi đất của làng Nghi Tàm bên bờ Hồ Tây. Một con đường đất từ làng dẫn đến chùa xung quanh là mặt nước hồ và những đầm sen thơm ngát mùa hè. Nguyên vị trí ngôi chùa đă tạo cho du khách có cảm giác được hưởng sự yên tỉnh của chốn bồng lai. Thế kỷ 12, nàng công chúa Từ Hoa con gái vua Lư Thần Tông đă đưa cung nữ đến khu đất này t́m đất trồng dâu, chăn tằm. Về sau ngôi chùa được dựng lên tại đây và đến năm 1771 chùa được mang tên là Kim Liên (bông sen vàng).

Chùa Quán Sứ: Chùa có từ thế kỷ 17, nằm ở phố cũng mang tên là phố Quán Sứ. Từ năm 1934 Hội Phật giáo Bắc Kỳ lấy chùa này làm hội quán. Đến năm 1942 chùa được xây dựng lại như ngày nay.
 

Văn Miếu - Quốc Tử Giám: Văn Miếu là miếu thờ tổ đạo được xây dựng năm 1070. Sáu năm sau (1076) trong khu vực này nhà Quốc Tử Giám được dựng lên. Lúc đầu là nơi học của các hoàng tử, sau mở rộng thu nhận các học sinh giỏi của con em nhân dân.

Quốc Tử Giám là trường Đại học đầu tiên của Việt Nam. Sau nhiều khóa thi đến năm 1482 vua Lê Thánh Tông cho dựng bia đá để khắc tên họ, quê quán những người thi đỗ trạng nguyên, bảng nhăn và tiến sĩ từ khoa thi 1442. Hiện nay trong nhà bia c̣n lại 82 tấm bia lớn. Ngoài giá trị nội dung, mỗi tấm bia c̣n có một công tŕnh nghệ thuật về chạm khắc đá. Bia được đặt trên lưng con rùa đá để biểu thị sự trường tồn của tinh hoa dân tộc.

 

LỄ HỘI

Hà Nội là mảnh đất ngàn năm văn hiến, là một trung tâm văn hóa lớn của cả nước. Hà Nội là một mảnh đất cổ nên văn học Hà Nội cũng rất phong phú, từ văn học truyền miệng, văn học chữ Hán, văn học chữ Nôm đến chữ Quốc Ngữ. Từ truyền thuyết, chuyện kể dân gian đến ca dao, tục ngữ đều mang những nét rất Hà Nội, thanh lịch và tinh túy. Văn học viết có chữ Hán, chữ Nôm, chữ Quốc Ngữ với nhiều tác phẩm lớn, với những áng văn chương bất hủ. Hà Nội c̣n lưu giữ nhiều di tích, di sản lịch sử, văn hóa, các kiến trúc nổi tiếng, có đến 600 ngôi đền, chùa, nhiều phố cổ và các phố buôn bán sầm uất.

Chèo, Tuồng: Trước đây, Hà Nội có những gánh chèo, tuồng đi biểu diễn lưu động ở các đường phố, làng xóm, các sân đ́nh, bến sông. Thời Pháp thuộc có nhiều rạp hát được xây dựng. Ban đầu được biểu diễn tuồng, chèo cổ, sau được cách tân dần. Có rạp dành biểu diễn tuồng cổ.
Cải Lương: Có nguồn gốc ở Nam Bộ, xuất hiện ở Hà Nội vào khoảng năm 1920 và rất được hâm mộ ở Hà Nội. Khoảng 1935 th́ xuất hiện rạp chuyên biểu diễn cải lương.
Kịch Nói: Đây là ngành sân khấu hiện đại, xuất hiện ở Hà Nội vào giữa năm 1920.
Xiếc: Xiếc đă có ở Hà Nội từ trước năm 1945. Các đoàn xiếc hồi đó có tên Tạ Duy Hiển, Long Tiên. Đến thập niên 60, xiếc được thành phố đầu tư và phát triển.
Múa Rối Nước: Là một hoạt động nghệ thuật đặc sắc của Việt Nam. Múa rối nước đă xuất hiện từ lâu ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, ở trong các ngày hội làng, ngày lễ... Sau một thời gian lăng quên loại h́nh nghệ thuật này đă được khôi phục và trở thành một nét riêng của văn hóa Việt Nam.
Dân Ca: Có các loại hát ru, hát ḥ lao đôïng, hát giao duyên (hát ví, hát đ́nh, hát trống quân, hát xẩm), ca nhạc thính pḥng có hát ca trù.
Nhạc Nghi Lễ: Nơi triều đ́nh có đại nhạc, tiểu nhạc, đồng văn, nhă nhạc. Nơi thôn làng có phường hát âm và giàn trống thường biểu diễn trong các buổi hành lễ (cúng tế, tang lễ).
Nhạc Tôn Giáo: Có hát Chầu Văn, hát Cửa Đ́nh ở các đền phủ, các, tụng niệm trong chùa, ca nhạc trong nhà thờ Thiên Chúa giáo. Thời Pháp thuộc, âm nhạc Tây phương du nhập với các nhạc cụ mới và điệu thức mới.

Trở Lại

     -o0o-

 

Xin gởi bài mới và ư kiến đóng góp về Tạng Thư Phật Học qua địa chỉ email: tangthuphathoc@gmail.com