Hà Nội
ĐỊA LƯ
Diện
tích: 918,1 km2.
Dân số (2004): 2.840.174 người.
Các quận: Hoàn Kiếm, Ba Đ́nh, Đống Đa, Hai Bà Trưng,
Hồ Tây, Thanh Xuân, Cầu Giấy.
Các huyện: Gia Lâm, Đông Anh, Thanh Tŕ, Từ Liêm và
Sóc Sơn.
Hà Nội nằm ở trung tâm đồng bằng sông Hồng, phía bắc
giáp tỉnh Thái Nguyên, phía nam giáp tỉnh Hà Tây,
phía đông và
đông
nam giáp tỉnh Bắc Ninh và Hưng Yên và phía tây giáp
tỉnh Hà Tây.
Thành phố Hà Nội ở vị trí từ 20 độ 25 phút đến 21 độ
23 phút vĩ độ bắc và từ 105 độ 15 phút đến 106 độ 03
phút kinh độ đông. Hà Nội nằm ở vùng khí hậu nhiệt
đới có gió mùa. Nếu phân chia thật chi tiết và tinh
tế, Hà Nội có đủ bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông. Nhưng
để giúp người xa dễ nhận biết khí hậu Hà Nội khi
chuẩn bị đến thủ đô này, có thể tạm chia thành hai
mùa chính là mùa khô và mùa mưa. Mùa khô từ tháng 10
năm trước đến tháng 4 năm sau, đây là thời kỳ giá
lạnh, không mưa to. Từ tháng 1 đến tháng 3 vẫn có
giá lạnh nhưng v́ là tiết xuân nên có mưa nhẹ (mưa
xuân) đủ độ ẩm cho cây cối đâm chồi nảy lộc. Từ
tháng 5 đến tháng 9 là mùa nóng có mưa to và băo.
Trong các tháng 8, 9, 10, Hà Nội có những ngày thu.
Mùa thu Hà Nội trời trong xanh, gió mát. Những ngày
cuối thu se se lạnh và nhanh chóng ḥa nhập vào mùa
đông.
Nhiệt độ trung b́nh mùa đông là 17,2°
C (lúc thấp nhất xuống tới 2,7°
C). Trung b́nh mùa hạ: 29,2°
C (lúc cao nhất đến 42,8°
C). Nhiệt độ trung b́nh cả năm: 23,2°
C. Mưa trung b́nh hàng năm: 1.800 mm.
SÔNG: Là vùng đất cổ, Hà
Nội được các sông Hồng và các phụ lưu bồi đắp tạo
nên, do đó Hà Nội gắn bó với sông Hồng mật thiết như
con với mẹ. Xưa kia người ta gọi sông Hồng là sông
Cái - sông Mẹ. Tên gọi Hà Nội là vùng đất có ư nghĩa
bên trong sông. Đoạn sông Hồng ôm lấy Hà Nội dài gần
100 km (63 miles) chiếm 1/5 chiều dài của sông Hồng
trên đất Việt Nam.
Các sông chảy qua Hà Nội là: sông Đuống, Cầu, Cà Lồ,
Đáy, Nhuệ, Tích, Tô Lịch và sông Kim Ngưu. Đặc biệt
sông Tô Lịch được nhắc nhiều trong văn chương Hà Nội
xưa như là con sông đẹp chảy trong ḷng thành phố.
Ngày nay sông Tô Lịch và sông Kim Ngưu chỉ có tác
dụng như là một hệ thống thoát nước cho thành phố.
HỒ: Hà Nội là thành phố của
những hồ đẹp. Những hồ nổi tiếng đă đi vào thơ văn
như hồ Hoàn Kiếm (hồ Gươm), Hồ Tây, Trúc Bạch, Thiền
Quang, Bảy Mẫu, Thủ Lệ, hồ Giảng Vơ... đó là những
lá phổi xanh của thành phố với vườn hoa và hàng hàng,
lớp lớp cây xanh tạo cho thành phố nguồn sinh lực
trong thiên nhiên tươi mát.
GIAO THÔNG: Hiện nay Hà Nội
đang chuyển ḿnh cùng cả nước. Hàng loạt phố mới,
với những đại lộ, đường cao tốc ra đời. Nhiều khách
sạn, công sở cao tầng hiện đại, đan xen với các khu
phố cổ tạo nên một dáng vẻ mới cho thành phố 1000
năm. Sân bay quốc tế Nội Bài cách trung tâm thành
phố khoảng 35 km (21.9 miles). Từ sân bay về thành
phố khoảng 40 phút xe ca.
ĐƯỜNG SẮT: Từ ga Hà Nội tỏa
đi các nhánh đường sắt: Hà Nội - Lạng Sơn; Hà Nội -
Thái Nguyên; Hà Nội - Lào Cai; Hà Nội - Hải Pḥng;
Hà Nội - Sài G̣n.
ĐƯỜNG BỘ: Từ các bến xe
phía Nam: Kim Mă, Gia Lâm tỏa đi khắp các nơi trên
toàn quốc bằng các tuyến quốc lộ A1 xuyên Bắc - Nam;
quốc lộ 2: đi Vĩnh Phúc, Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên
Quang; quốc lộ: 3 đi Thái Nguyên, Cao Bằng; quốc lộ
5: đi Hải Pḥng; quốc lộ 6 đi Ḥa B́nh, Sơn La, Lai
Châu; quốc lộ 32 đi Sơn Tây.
ĐƯỜNG THUỶ: Bến phà Đen có
tàu thủy đi Hưng Yên, Nam Định, Thái B́nh, Việt Tŕ;
bến Hàm Tử Quan có tàu thủy đi Phả Lại.
THẮNG CẢNH
Phố cổ - phố nghề:
Đặc điểm chung của các phố
cổ Hà Nội là nhiều tên phố bắt đầu bằng chữ "Hàng",
tiếp đó là một từ chỉ một nghề nghiệp nào đó. Thí dụ
Hàng Đào, Hàng Đường, Hàng Mă, Hàng Thiếc... Du
khách mới đến Hà Nội, xin mời dạo qua khu phố cổ -
phố nghề để thấy được nét khác biệt giữa Hà Nội và
các thủ đô các nước mà du khách đă đi qua.
Từ phiùa bắc hồ Hoàn Kiếm (nơi có đ
ài
phun nước) du khách hăy đi bộ lần lượt qua các phố
Hàng Đào, Hàng Ngang, Hàng Đường là
đến
chợ Đồng Xuân. Phố Hàng Đào h́nh thành từ thế kỷ15,
dân ở đây làm nghề nhuộm vải. Thời đó họ thường
nhuộm màu đỏ, màu hồng, màu hoa đ
ào...
nên có tên gọi là Hàng Đào.
Từ đời Lê (thế kỷ15) nhiều người Trung Quốc được
phép cư trú ở Thăng Long (Hà Nội), họ rủ nhau đến
làm ăn buôn bán ở phố Hàng Ngang. Xưa kia ở hai đầu
phố có dựng hai cổng chắn ngang đường, tối đến đóng
lại. Do đó thành tên Hàng Ngang.
Như tên gọi, Hàng Đường có rất nhiều cửa hàng bán
đường, mật, bánh kẹo... Sát với chợ Đồng Xuân là phố
Hàng Mă. Mặt hàng truyền thống làm từ các loại giấy
màu ở phố này gần như không thay đổi từ khi lập phố.
Có khác chăng bây giờ nhiều chủng loại hàng hơn
trước. Hàng năm vào dịp Tết Trung Thu của trẻ em
(15/8 âm lịch) cả phố Hàng Mă trở thành một chợ bán
đồ chơi muôn màu sắc: đ
èn
ông sao, đ
èn
xếp, đ
èn
kéo quân, đầu sư tử...
Từ đầu phố Hàng Mă đi thẳng sang phố Hàng Chiếu (nơi
bán nhiều loại chiếu bằng cói) là
đến
được ô Quan Chưởng (cửa Đông Hà) di tích khá nguyên
vẹn của một trong 36 phố phường Thăng Long xưa.
Một phố rất điển h́nh là Hàng Thiếc, đến đây bạn sẽ
nghe râm ran tiếng búa gơ vào những mảnh tôn, mảnh
thiếc trắng lấp lánh. Những người thợ thiếc ở phố
này suốt ngày cặm cụi làm các đồ dùng từ nhỏ đến lớn
như chân đ
èn,
thùng, chậu, gáo múc nước, ḥm, bể nước... Người các
tỉnh cũng về Hàng Thiếc buôn hàng đưa về bán ở các
địa phương.
Hồ Hoàn Kiếm:
Hồ nằm ở vị trí trung tâm
thành phố nên được ví như một lẵng hoa giữa ḷng Hà
Nội. Hồ gắn với truyền thuyết trả gươm: vua Lê Thái
Tổ có một thanh gươm quư luôn ở bên ḿnh ông suốt 10
năm kháng chiến chống quân Minh (thế kỷ 15). Sau
chiến thắng, một lần vua Lê du thuyền trên bờ hồ
bỗng có con rùa nổi lên, vua rút gươm báu ra trỏ cho
quân sĩ biết th́ rùa liền đớp ngay thanh gươm rồi
lặn xuống nước. Nghĩ rằng trước đây Thần đă giúp
mang gươm cho ḿnh đánh thắng giặc, nay đất nước trở
lại thanh b́nh, Thần lấy lại gươm, nên vua đặt tên
cho hồ là Hoàn Kiếm (trả lại gươm).
Hồ Tây - Đường Thanh
Niên (Đường Cổ Ngư):
Đây là một quần thể cảnh đẹp ở
phía tây thành phố. Có thể ví đường Thanh Niên như
một cái cầu bắt ngang hai hồ nước, một bên là Hồ Tây,
một bên là hồ Trúc Bạch. Đoạn đường này dài 992 m
(2,976 ft), đường đôi, phân cách là một hàng cây
xanh, hai bên đường là những hàng cây phượng, cây
liễu, cây bằng lăng...
Nếu đứng ở đầu đường nơi có đền Quan Thánh th́ Hồ
Tây ở bên tay trái. Hồ rộng khoảng 500 hécta, lớn
nhất trong các hồ của Hà Nội. Con đường ṿng quanh
hồ dài 17 km (10.6 miles) qua các làng hoa Nghi Tàm,
Tây Hồ, vườn đ
ào
thôn Nhật Tân và các đ́nh chùa đẹp nổi tiếng như phủ
Tây Hồ, chùa Kim Liên... Từ xưa các triều đại vua
chúa phong kiến đă xây dựng cung điện quanh hồ làm
nơi nghỉ ngơi hưởng lạc. Ngày nay, Hồ Tây nằm trong
quy hoạch xây dựng làng du lịch của Hà Nội.
Hồ Trúc Bạch:
Hồ cách Hồ Tây bởi con đường
Thanh Niên. Thế kỷ 18, chúa Trịnh Giang cho xây một
cung nghĩ mát gần hồ gọi là viện Trúc Lâm. Sau viện
này trở thành nơi an trí những cung nữ có tội buộc
phải tự dệt lụa để nuôi thân. Lụa do cung nữ dệt rất
đẹp, nổi tiếng khắp kinh thành, có tên là lụa làng
Trúc, v́ vậy hồ được gọi là hồ Trúc Bạch.
Ven bờ hồ Trúc Bạch cũng có nhiều di tích lịch sử và
công tŕnh kiến trúc đặc sắc. Mặt hồ phẳng lặng, êm
ả. Phía tây nam hồ là
đền
Quan Thánh, bờ đông có chùa Châu Long, góc bắc hồ có
một đảo nhỏ trên đó có ngôi đền Cẩu Nhi.
Chợ Đồng Xuân:
Trong số hàng chục chợ ở
Hà Nội như chợ Mơ, chợ Hôm, chợ Cửa Nam, chợ Ngọc
Hà... th́ chợ Đồng Xuân là lớn nhất. Chợ ra đời từ
năm 1889 trên địa phận phường Đồng Xuân. Ban đầu chợ
họp ngoài trời, sau được xây thành chợ với năm cầu
khung sắt, lợp tôn tráng kẽm, dài 52 m (1,56 ft),
cao 19 m (57 ft). Nằm gần ga đầu cầu Long Biên bên
sông Hồng, chợ Đồng Xuân là
điểm
thuận lợi để hàng hóa bốn phương dồn về đây cũng như
từ đây tỏa đi các nơi. Ở chợ Đồng Xuân hầu như có
đầy đủ tất cả các mặt hàng, ngành hàng phục vụ sinh
hoạt và
đời
sống. Chợ Đồng Xuân là chợ bán buôn lớn nhất của
miền bắc.
Ngày nay chợ Đồng Xuân được xây dựng lại với quy mô
lớn hơn gồm 3 tầng hiện đại, khang trang, rộng răi
nhưng vẫn giữ một phần kiến trúc của chợ cũ.
Vườn Thú Thủ Lệ:
Nằm ở phía tây thành phố trên
một khu đất rộng 20 ha, có hồ nước, thế đất tự nhiên
như h́nh rồng lượn khá đẹp mắt. Vườn thú được chia
làm nhiều khu. Khu ḅ sát có trăn, rắn, kỳ đ
à
v.v.. ở ngay sát hồ nước. Khu chim muông có công ,
trĩ, uyên ương, hạc, c̣, họa mi, hoàng yến v.v.. Khu
thú dữ có hổ, báo, voi, sư tử v.v.. Đáng kể hơn là
có gần 40 loài động vật trong sách đỏ của Việt Nam
và một số động vật quư là tặng phẩm của các nước.
Làng Gốm Bát Tràng:
Làng Bát Tràng thuộc huyện
Gia Lâm, ngoại thành Hà Nội nằm trên bờ sông Hồng,
là một làng nghề truyền thống nổi tiếng từ xa xưa về
các loại gốm sứ thủ công. Gốm Bát Tràng làm từ một
loại đất sét đặc biệt. Từ loại đất sét này, người
thợ dùng bàn xoay thủ công để tạo h́nh các sản phẩm
sau đó phơi sấy cho khô rồi vẽ hoa, tráng men và
nung trong các ḷ nhỏ. Nhiệt độ của ḷ nung ảnh
hưởng đến màu sắc của sản phẩm. Sản phẩm của gốm Bát
Tràng là các loại bát điă, chén, lọ b́nh, lư hương...
Điều đặc biệt là chất liệu men của các sản phẩm có
độ bóng, sâu mịn và
đều,
cách trang trí, vẽ họa tiết trên các loại sản phẩm
này rất độc đáo.
Ngày nay, đến làng gốm Bát Tràng vào bất cứ thời
điểm nào trong ngày cũng thấy làng quê này luôn sôi
động. Từng đoàn xe tấp nập chở nguyên vật liệu vào
làng và rồi lại chở sản phẩm đi tiêu thụ, và có cả
đoàn khách du lịch đến tham quan, mua quà lưu niệm.
Gốm sứ Bát Tràng không những nổi tiếng ở trong nước
mà cả ở nhiều nước trên thế giới. Các sản phẩm đạt
chất lượng cao, mẫu mă đẹp, độc đáo không thua kém
gốm sứ Trung Quốc.
KINH TẾ
Dân
chúng cư ngụ ở Hà Nội rất đông, theo đạo Phật và
Thiên Chúa. Nhiều chùa nổi tiếng được các triều đại
ngày xưa hoặc dân chúng xây ở thành phố này.
Nền kinh tế quan trọng
trước đây của miền Bắc tập trung tại Hà Nội, rất
nhiều nhà máy, xưởng kỹ nghệ thành lập ở đây như chế
biến gang, sắt để làm máy móc, gạch, xà pḥng, nấu
rượu, thuốc lá, bao diêm, cung cấp điện cho Hà Nội
và một số tỉnh khác...
Nói đến cảnh buôn bán của
dân chúng Hà Nội, người ta đặc biệt nói đến sinh
hoạt của 36 phố phường, mỗi phố phường bán một loại
hàng riêng biệt như: Các phố Hàng Than, Hàng Bạc,
Hàng Gai, Hàng Khay, Hàng Quạt, Hàng Chiếu, Hàng Đào,
Hàng Đường, Hàng Dầu, Hàng Bè, Hàng Ngang, Hàng Bông,
Hàng Giấy, Hàng Cót, Hàng Gà, Hàng Ḥm, Hàng Hài,
Hàng Mành, Hàng Lờ... Các nơi buôn bán tấp nập khác
như chợ Đồng Xuân, phố Sinh Từ, phố Tràng Tiền, khu
Cửa Nam...
LỊCH SỬ
Đất
Hà Nội xưa thuộc bộ Giao Chỉ, một trong 15 bộ của
nhà nước Văn Lang. V́ hoàn cảnh địa dư của nước ta
ngày xưa, các triều đ́nh thường chọn Hà Nội làm đế
đô. Vào thế kỷ thứ 3, Hà Nội là Long Biên , lỵ sở
của Giao Châu. Thời Đường, đất này thuộc một trong
tám huyện thuộc Giao Châu. Năm 791, thứ sử Triệu
Xương đắp thành Đại La bên bờ sông Tô Lịch. Năm 862,
quân Nam Chiếu đánh Giao Châu, nhà Đường sai Thái
Tập đem ba vạn quân sang chống giữ và quân Nam Chiếu
rút lui. Qua năm sau, tháng giêng năm Quư Mùi 863,
Nam Chiếu lại mang năm vạn binh sang đánh Long Biên,
giết chết tướng nhà Đường là Nguyễn Duy Đức và chiếm
được thành và tàn sát 15 vạn dân ta. Đến năm 866,
nhà Đường sai Cao Biền dẹp giặc Nam Chiếu, giết được
tướng giặc là Đoàn Tư Thiên và giải vây thành Đại La
vào tháng mười âm lịch. Năm 867, Cao Biền sửa sang
lại thành, mở rộng thêm ra; ngoài thành cho đắp con
đường dài gần bảy cây số, cao hơn năm thước. Năm 960
đến năm 1009, Hà Nội là quận Giao Chỉ. Triều đ́nh và
triều Tiền Lê
đóng
đô ở Hoa Lư.
Tháng bảy năm 1010, vua Lư
Thái Tổ dời đô về thành Đại La. Sử viết rằng khi vua
Lư Thái Tông vào thành Đại La thấy rồng hiện thành
những đám mây lơ lững trên trời nên đổi thành là
Thăng Long. Nhà Trần nối nghiệp nhà Hậu Lư từ năm
1225 đến 1400 cũng đóng đô tại Thăng Long. Quân Mông
Cổ xâm lược nước ta đă chiếm thành Thăng Long hai
lần vào những năm 1285 và 1287. Đời Lư, Trần trong
thành Thăng Long có 13 trại, ngoài thành có 61
phường. Để chuẩn bị chiếm ngôi nhà Trần, năm Bính Tư
1396, Hồ Quư Ly ép vua Trần Thuận Tông phải bỏ thành
Thăng Long, dời kinh về Tây Đô thuộc tỉnh Thanh Hóa,
c̣n Thăng Long được gọi là Đông Đô. Sau đó nhà Hồ
cũng đóng đô tại đây. Thời Minh thuộc Hà Nội là phủ
lỵ của Giao Châu. Đến năm 1429 vua Lê Thái Tổ đánh
đuổi xong giặc Minh, đóng đô ở Hà Nội và
đặt
tên là Đông Kinh. Dưới thời vua Lê Thái Tông, Đông
Kinh là một phủ lỵ của hạt Phụng Thiên. Nhà Mạc sau
khi giết chết vua Lê Chiêu Tông để cướp ngôi cũng
đóng đô ở Hà Nội và gọi là Đông Kinh. Về sau vua Lê
Trung Hưng đánh đuổi được nhà Mạc lại đóng đô ở
Thăng Long. Đời vua Gia Long đất này là lỵ sở của
bắc thàng tổng trấn và gọi là Long Thành.
Năm 1803, Long Thành được
đắp lại theo kiểu tây phương và gọi lại là Thăng
Long. Năm 1805 Thăng Long là phủ lỵ của phủ Hoài Đức.
Phủ này gồm có hai huyện là Thọ Xương (8 tổng, 193
phường, thôn) và huyện Vĩnh Thuận (5 tổng, 54 phường,
thôn, trại). Đến năm 1831, được đổi thành tỉnh lỵ Hà
Nội. Năm 1888, Hà Nội được nhà Nguyễn nhường làm
nhượng địa. Kể từ năm 1902, Hà Nội là nơi đặt các cơ
quan trung ương của quân Pháp. Sau đó, huyện Hoàn
Long được sát nhập vào thành phố Hà Nội.
Lịch sử đấu tranh của Hà
Nội đă chói lọi từ hơn 10 thế kỷ trước. Thời Đường
thuộc, năm 791, anh hùng Phùng Hưng dựng cờ khởi
nghĩa, đem quân đi đánh chiếm Đô Hộ Phủ (làng Bích
Câu), làm tên quan đô hộ là Cao Chính B́nh khiếp sợ
sinh bịnh mà chết. Làng Cơ Sá, huyện Thọ Xương, là
nơi sinh trưởng của anh hùng Lư Thường Kiệt, năm
1076 phá Tống, b́nh Chiêm.Vào thế kỷ thứ 13, đời
Trần, giặc Mông Cổ ba lần đem quân tiến đánh nước ta
nhưng đều bị bại. Trong ba lần đó, thế giặc hung hăn
lắm, vua tôi đều phải rời thành Thăng Long t́m kế
chống giặc. Bên cạnh vua lúc gian khổ luôn có Hưng
Đạo Vương Trần Quốc Tuấn cùng các danh tướng Trần
Quang Khải, Trần Quốc Toản. Đuổi xong giặc, Thăng
Long mở ba ngày hội "Thiên B́nh Diên Yến" vui sướng
biết chừng nào. Đất Thăng Long là nơi sinh trưởng
của anh hùng Trần Quư Khoách; khi giặc Minh sai
Trương Phụ và Vương Hựu đánh nước ta, từ 1409 đến
1413, anh hùng Trần Quư Khoách và anh hùng Nguyễn
Biểu, Đặng Dung, Nguyễn Cảnh Dị khởi nghĩa đánh
thắng quân giặc nhiều trận. Thời Minh thuộc, giặc
cai trị tàn ác, muốn đồng hóa dân ta, bao nhiêu sách
vở giá trị chúng mang về Tàu. Năm Bính Ngọ 1426,
B́nh Định Vương Lê Lợi tiến quân ra Đông Đô, dân
chúng Hà Nội và các nơi khác nô nức tham gia quân
kháng chiến, đánh thắng khắp nơi, đuổi bọn Vương
Thông về nước. Huyện Thọ Xương, làng Văn Chương là
nơi sinh trưởng của vị vua anh hùng Lê Thánh Tông (
1460-1497), con thứ tư của vua Lê Thái Tông; Ông là
người thông minh, tài kiêm văn vơ, một vị minh quân
trong lịch sử Việt Nam, dưới sự trị v́ của ông nước
nhà phát triển đến mức cực thịnh. Vua là người đầu
tiên cho vẽ bản đồ nước ta, sai Ngô Sĩ Liêm làm bộ "Đại
Việt Sử Kư Toàn Thư" (chép việc từ đời Hồng Bàng đến
đời vua Lê Thái Tổ), đặt bộ luật Hồng Đức để giữ yên
trăm họ, mở rộng trường Thái Học, lập hội Tao Đàn
phát triển văn chương.
Thời Tây Sơn, tháng 6 năm
1786, sau khi giải phóng Phú Xuân, anh hùng Nguyễn
Huệ đă tiến quân vào Thăng Long trừ Vũ Văn Nhậm và
tái lập Hà Bắc. Ngày 28-11-1788 gần 30 vạn quân
Thanh tràn sang nước ta. Ngày 18-12-1788, Tôn Sĩ
Nghị vào tới Thăng Long. Ngày 15-1-1789 (30 tháng
chạp năm Mậu Thân) Quang Trung Hoàng Đế xuất quân từ
Nghệ An ra miền bắc, cưỡi voi điều khiển quân chủ
lực đi đầu đánh thẳng vào mặt nam thành Thăng Long,
nơi Tôn Sĩ Nghị pḥng vệ kiên cố nhất. Mùng ba Tết
Kỷ Dậu, quân ta dẹp Hạ Hồi, mùng năm quân ta chiếm
Ngọc Hồi, rồi phá bung thàng Đống Đa. Cánh quân Điền
Châu chết chật đường đi, tướng giặc Sầm Nghi Đống
treo cổ chết. B́nh Nam Đại Tướng Quân nhanh chân rời
khỏi Thăng Long mà quên cả ấn tín, mật chỉ. Trong
tiếng quân reo ḥ phá vỡ thành Thăng Long, người dân
Hà Nội luôn luôn nh́n thấy các danh tướng anh hùng
như Vơ Văn Dũng, Ngô Văn Sở, Phan Văn Lân, Đặng Văn
Chân, Trần Quang Diệu, anh thư Bùi Thị Xuân... đi
tiên phong. Chiến sự xảy ra trong năm ngày, quân
Thanh hoàn toàn tan ră. Mùng năm Tết Quang Trung vào
tới Thăng Long cho ba quân làm lễ khai hạ. Sau đó
cho đắp thành Hà Nội gọi là Bắc Thành.
Năm 1872, quân Pháp cử
Francis Gamier đem quân từ Gia Định ra, muốn đóng
quân trong thành Hà Nội. Nguyễn Tri Phương không cho,
nên chúng mang quân đóng ở Trương Thi. Ngày
20-1-1873, quân Pháp tấn công thành Hà Nội. Nguyễn
Tri Phương cùng con là pḥ mă Nguyễn Lâm lên mặt
thành đốc quân chống giữ. Nhưng khoảng sau một giờ,
thành vỡ, anh hùng Nguyễn Lâm tử trận. C̣n anh hùng
Nguyễn Tri Phương bị thương nặng, quân Pháp đưa ông
xuống tàu, nhưng ông nhất định không cho giặc buộc
thuốc rồi nhịn ăn chết theo thành. Tháng 2 năm 1882,
quân Pháp cử Henri Rivieres đánh Hà Nội lần thứ hai.
Lúc tám giờ sáng ngày 25-4-1882 quân Pháp tấn công
Hà Nội gặp phải sự chống trả dữ dội của quân ta dưới
sự điều động của Tổng Đốc Hoàng Diệu. Nhưng v́ vũ
khí thô sơ nên không giữ nổi thành, anh hùng thảo tờ
biểu tạ tội với vua rồi lấy khăn bịt đầu thắt cổ tự
tử.
Tháng 5-1907, một số nhà
yêu nước như Lương Văn Cang, Nguyễn Quyền, Lương
Trúc Đàm, Đỗ Trung Thiết,
Nguyễn
Hùng Hương... thành lập Đông Kinh Nghĩa Thục tại Hà
Nội để dạy học mở mang dân trí, diễn thuyết truyền
bá tư tưởng đấâu tranh. Phong trào Đông Kinh Nghĩa
Thục phát động rộng răi trong cả nước. Ngày
27-6-1908, các nghĩa quân Yên Thế và Việt Nam Quang
Phục Hội phối hợp với binh lính Việt đầu độc quân
Pháp trong thành Hà Nội. Nhưng công việc không thành
v́ nội gián, quân Pháp bị đầu độc nhưng không nặng.
Giặc khủng bố ngay, đem chém cả Nguyễn Văn Phúc,
Nguyễn Chi B́nh, Nguyễn Cốc, Đặng Nhân, Nguyễn Đức
A, Cai Rôn, Đỗ Đảm, Hai Hiền, bà hàng cơm Nguyễn Thị
Ba... tại Băi Gáo, rồi đem bêu đầu ở chợ Mơ, Ô Cầu
Rền, Ô Cầu Giấy. Giặc c̣n chụp h́nh đầu những người
yêu nước in trên bưu thiếp phổ biến khắp nơi nhằm
khủng bố tinh thần dân chúng ḥng ngăn chặn phong
trào kháng Pháp. Cùng năm 1908, Quang Phục Hội hoạt
động mạnh, tổ chức chuyển vũ khí, đạn dược về nước,
ngày 16 - 4, nghĩa quân ném bom tại khách sạn Hà Nội
giết nhiều sĩ quan Pháp. Quân Pháp lại thẳng tay đ
àn
áp với các án tử h́nh, giam cầm, đ
ày
ải, trời Hà Nội như có đại tang. Các anh hùng Đỗ
Chân Thiết, Phạm Văn Tráng, Nguyễn Văn Túy, Nguyễn
Khắc Cần, Phạm đế Quư, Vũ Ngọc Thụy, Phạm Hoàng Quế,
Phạm Hoàng Triết bị giết tại Hà Nội. Anh hùng Lương
Văn Cang bị đ
ày
đi Nam Vang. Năm 1915 anh hùng Lương Ngọc Quyến bị
tên phản quốc Nguyễn Bá Trác đă chỉ điểm cho quân
Pháp bắt tại Hà Nội.
Năm 1925 anh hùng Phan Bội
Châu bị bắt tại Thượng Hải đem về Hà Nội kết án.
Cuối năm 1925 đó, Nam Đồng Thư Xá được thành lập do
Phạm Tuấn làm chủ nhiệm, chuyên xuất bản sách yêu
nước, gây ảnh hưởng sâu rộng trong giới trí thứ,
sinh viên học sinh... Ngày 13-6-1927, anh hùng Lương
Văn Can từ trần, sau khi quân Pháp thả ông về năm
1924. Ngày 15-12-1927, Việt Nam Quốc Đảng ra đời tại
làng Thể Giao, Hà Nội, do anh hùng Nguyễn Thái Học
lănh đạo, hoạt động sâu rộng trong quần chúng. Ngày
9-2-1929, tên mộ phu gian ác Ba in bị giết chết tại
chợ Hôm. Tháng 2-1930, khi cuộc khởi nghĩa Yên Bái
bùng nổ th́ ban ám sát của Đặng Trần Nghiệp tổ chức
ném bom các cơ quan tổ chức trong thành phố. Việc
khởi nghĩa bị thất bại, vào tháng 12-1930 và tháng
6-1931, quân Pháp xử tử các anh hùng Đặng Trần
Nghiệp, Lương Ngọc Tốn, Nguyễn Văn Nho, Nguyễn Quang
Triều, Nguyễn Minh Luân, Nguyễn Trọng Bằng, Trần Văn
Khuê, Lê Hữu Cảnh, Nguyễn Xuân Huân tại ngục thất
Cửa Ḷ. Những tấm gương trung liệt v́ nước v́ dân
nói trên đă làm sáng ngời tranh đấu sử Việt.
DI TÍCH
Thành Cổ Loa Và Đền Thờ
An Dương Vương: Đây
là thành cổ vào bậc nhất Việt Nam được vua Thục An
Dương Vương xây từ thế kỷ 3 trước công nguyên để làm
kinh đô nước Âu Lạc (tên nước Việt Nam thời đó).
Thành được xây dựng kiểu ṿng ốc (nên gọi là Loa
Thành) gồm 3 ṿng: thành ngoài, thành giữa và thành
trong. Dưới thành ngoài là hào sâu ngập nước thuyền
bè
đi
lại được. Từ trung tâm thành phố, đi 18 km (11.25
miles) đến xă Cổ Loa thuộc huyện Đông Anh, bạn sẽ
t́m thấy vết tích c̣n lại của 3 ṿng thành xưa bằng
đất và nơi các nhà khảo cổ t́m được hàng vạn mũi tên
đồng, lưỡi cày, ŕu sắt, xương thú vật...
Trong khu vực thành c̣n có đ́nh làng Cổ Loa, am thờ
công chúa Mỵ Châu và
đền
thờ An Dương Vương - ông vua rất mực yêu thương con
gái Mỵ Châu, nhưng v́ mất cảnh giác ông đă để thành
Cổ Loa trở nên một sân khấu của tấn bi kịch nước mất,
nhà tan.
Chùa Trấn Quốc:
Chùa nằm trên một ḥn đảo của
Hồ Tây, là một ngôi chùa cổ nhất Việt Nam, được khởi
dựng từ năm 541. Đứng ở cuối đường Thanh Niên đă
nh́n thấy nhiều ngọn tháp nhấp nhô trên mặt hồ.
Trong chùa có pho tượng quư Phật Thích Ca nhập Niết
Bàn, kiệt tác của nghệ thuật tạc tượng Việt Nam.
Chùa
Một Cột: Tên chữ là
chùa Diên Hựu (nghĩa là phúc lành lâu dài). Chùa ở
quận Ba Đ́nh xây dựng năm 1049 thời vua Lư Thái Tông.
Tương truyền khi ấy vua Lư Thái Tông đă cao tuổi mà
chưa có con trai nên nhà vua thường đến các chùa cầu
tự. Một đ
êm
vua chiêm bao thấy Đức Phật Quan Âm hiện trên đ
ài
hoa sen ơ ûmột hồ nước h́nh vuông phía tây thành
Thăng Long, tay bế đứa con trai đưa cho nhà vua. Ít
lâu sau, Hoàng hậu sinh con trai. Nhà vua cho dựng
chùa Một Cột có dáng dấp như đă thấy trong giấc mơ
để thờ Phật Quan Âm. Chùa Một Cột tuy nhỏ, nhưng có
kiến trúc độc đáo, được tạo dáng như một bông sen từ
dưới nước lên.
Chùa Láng:
Chùa được khởi dựng vào đời
vua Lư Anh Tông (1138 -1175) tại làng Yên Lăng,
huyện Từ Liêm, nay thuộc phường Láng, quận Đống Đa,
Hà Nội. Chùa được xây theo kiểu " Nội Công Ngoại
Quốc", tam quan 3 gian, lầu bát giác 4 gian. Các
ngôi nhà chính đều gồm 9 gian v́ vậy chùa trông rất
bề thế. Trong chùa c̣n lại nhiều đồ thờ cổ. Ở hậu
cung ngoài các pho tượng Phật c̣n có tượng vua Lư
Thần Tông (bằng gỗ), tượng Thiền Sư Từ Đạo Hạnh đan
bằng mây, ngoài quét sơn. hai dăy hành lang thờ 18
vị La Hán, có rất nhiều nét sinh động, ngồi thiền.
Chùa Láng đă qua nhiều lần
trùng tu. Lần trùng tu lớn nhất vào năm 1656. Chùa
Láng là một ngôi chùa có kiến trúc đẹp và bố cục của
chùa tạo nên một không gian hài ḥa, sâu thẳm, tĩnh
mịch, cổ kính uy nghi.
Chùa Liên Phái:
Chùa ở trong ngơ Liên Phái,
phố Bạch Mai, quận Hai BàTrưng, Hà Nội. Chùa lập vào
năm 1726. Lúc mới xây dựng chùa có tên là Liên Hoa,
sau đổi tên là Liên Tông và
đến
năm 1840 đổi tên là Liên Phái.
Trước cổng chùa có ngôi tháp Diệu Quang h́nh lục
lăng cao 10 tầng có kiến trúc thanh nhă cổ kính.
Trong tháp có hài cốt đă hỏa táng của vị sư tổ Diệu
Quang cùng với 5 vị sư khác. Nhà bia có 34 tấm ghi
sự tích chùa và các lần trùng tu của chùa. Qua sân
rộng đến các nhà Bái Đường và Tam Bảo là nơi thờ
Phật. Khu vườn tháp sau chùa gồm 9 ngôi tháp xây 3
hàng. Hàng giữa có tháp Cửu Sinh xây bằng đá, tương
truyền đây là nơi táng hài cốt vị sư tổ thứ nhất Lâm
Giác Thượng Sĩ. Tháp Cửu Sinh đă có trên 250 năm.
Đây là ngôi tháp cổ nhất có trong khu vực nội thành
Hà Nội. Ngoài ra chùa c̣n có một tháp cao 9 tầng
kiến trúc đẹp, được xây vào năm 1890.
Chùa Kim Liên:
Chùa được dựng trên đồi
đất của làng Nghi Tàm bên bờ Hồ Tây. Một con đường
đất từ làng dẫn đến chùa xung quanh là mặt nước hồ
và những đầm sen thơm ngát mùa hè. Nguyên vị trí
ngôi chùa đă tạo cho du khách có cảm giác được hưởng
sự yên tỉnh của chốn bồng lai. Thế kỷ 12, nàng công
chúa Từ Hoa con gái vua Lư Thần Tông đă đưa cung nữ
đến khu đất này t́m đất trồng dâu, chăn tằm. Về sau
ngôi chùa được dựng lên tại đây và
đến
năm 1771 chùa được mang tên là Kim Liên (bông sen
vàng).
Chùa Quán Sứ:
Chùa có từ thế kỷ 17, nằm ở
phố cũng mang tên là phố Quán Sứ. Từ năm 1934 Hội
Phật giáo Bắc Kỳ lấy chùa này làm hội quán. Đến năm
1942 chùa được xây dựng lại như ngày nay.
Văn Miếu - Quốc Tử Giám:
Văn Miếu là miếu thờ tổ đạo được xây dựng năm 1070.
Sáu năm sau (1076) trong khu vực này nhà Quốc Tử
Giám được dựng lên. Lúc đầu là nơi học của các hoàng
tử, sau mở rộng thu nhận các học sinh giỏi của con
em nhân dân.
Quốc Tử Giám là trường Đại học đầu tiên của Việt
Nam. Sau nhiều khóa thi đến năm 1482 vua Lê Thánh
Tông cho dựng bia đá để khắc tên họ, quê quán những
người thi đỗ trạng nguyên, bảng nhăn và tiến sĩ từ
khoa thi 1442. Hiện nay trong nhà bia c̣n lại 82 tấm
bia lớn. Ngoài giá trị nội dung, mỗi tấm bia c̣n có
một công tŕnh nghệ thuật về chạm khắc đá. Bia được
đặt trên lưng con rùa đá để biểu thị sự trường tồn
của tinh hoa dân tộc.
LỄ HỘI
Hà
Nội là mảnh đất ngàn năm văn hiến, là một trung tâm
văn hóa lớn của cả nước. Hà Nội là một mảnh đất cổ
nên văn học Hà Nội cũng rất phong phú, từ văn học
truyền miệng, văn học chữ Hán, văn học chữ Nôm đến
chữ Quốc Ngữ. Từ truyền thuyết, chuyện kể dân gian
đến ca dao, tục ngữ đều mang những nét rất Hà Nội,
thanh lịch và tinh túy. Văn học viết có chữ Hán, chữ
Nôm, chữ Quốc Ngữ với nhiều tác phẩm lớn, với những
áng văn chương bất hủ. Hà Nội c̣n lưu giữ nhiều di
tích, di sản lịch sử, văn hóa, các kiến trúc nổi
tiếng, có đến 600 ngôi đền, chùa, nhiều phố cổ và
các phố buôn bán sầm uất.
Chèo, Tuồng: Trước đây, Hà Nội
có những gánh chèo, tuồng đi biểu diễn lưu động ở
các đường phố, làng xóm, các sân đ́nh, bến sông.
Thời Pháp thuộc có nhiều rạp hát được xây dựng. Ban
đầu được biểu diễn tuồng, chèo cổ, sau được cách tân
dần. Có rạp dành biểu diễn tuồng cổ.
Cải Lương: Có nguồn gốc ở Nam Bộ, xuất hiện ở Hà Nội
vào khoảng năm 1920 và rất được hâm mộ ở Hà Nội.
Khoảng 1935 th́ xuất hiện rạp chuyên biểu diễn cải
lương.
Kịch Nói: Đây là ngành sân khấu hiện đại, xuất hiện
ở Hà Nội vào giữa năm 1920.
Xiếc: Xiếc đă có ở Hà Nội từ trước năm 1945. Các
đoàn xiếc hồi đó có tên Tạ Duy Hiển, Long Tiên. Đến
thập niên 60, xiếc được thành phố đầu tư và phát
triển.
Múa Rối Nước: Là một hoạt động nghệ thuật đặc sắc
của Việt Nam. Múa rối nước đă xuất hiện từ lâu ở
vùng đồng bằng Bắc Bộ, ở trong các ngày hội làng,
ngày lễ... Sau một thời gian lăng quên loại h́nh
nghệ thuật này đă được khôi phục và trở thành một
nét riêng của văn hóa Việt Nam.
Dân Ca: Có các loại hát ru, hát ḥ lao đôïng, hát
giao duyên (hát ví, hát đ́nh, hát trống quân, hát
xẩm), ca nhạc thính pḥng có hát ca trù.
Nhạc Nghi Lễ: Nơi triều đ́nh có đại nhạc, tiểu nhạc,
đồng văn, nhă nhạc. Nơi thôn làng có phường hát âm
và giàn trống thường biểu diễn trong các buổi hành
lễ (cúng tế, tang lễ).
Nhạc Tôn Giáo: Có hát Chầu Văn, hát Cửa Đ́nh ở các
đền phủ, các, tụng niệm trong chùa, ca nhạc trong
nhà thờ Thiên Chúa giáo. Thời Pháp thuộc, âm nhạc
Tây phương du nhập với các nhạc cụ mới và
điệu
thức mới.