Quê Hương Vit Nam Mến Yêu

                       

 

 

Bạc Liêu

ĐỊA LƯ

Diện tích: 2.485 km2 (971 square miles). Dân số(01/04/1999): 736.325 người. Tỉnh Lỵ: Thị xă Bạc Liêu. Các huyện: Hồng Dân, Vĩnh Lợi, Giá Rai. Dân tộc: Việt (Kinh), Hoa, Khmer, Chàm.

Bạc Liêu là một tỉnh đồng bằng sông Cửu Long nằm ở mảnh đất tận cùng của tổ quốc. Phía bắc giáp Sóc Trăng và Cần Thơ, phía đông giáp biển Đông, phía tây giáp Cà Mau và Kiên Giang.

Là vùng đất trẻ được khai mở vào cuối thế kỷ 17 và được phù sa bồi đắp, Bạc Liêu có nhiều cánh đồng lúa bao la. Do hành tŕnh của ḍng hải lưu bắc nam, phù sa dồn lại tạo thành những giồng đất cát, nơi đây cây ăn trái sum sê. Bạc Liêu nổi tiếng với những vườn nhăn dài hàng mấy chục km, mà hương vị của nó ít nơi nào sánh được.

Bạc Liêu không có núi mà chỉ có một số vồng đất cao bên đồng bằng thấp với nhiều kinh rạch chạy khắp tỉnh. Các kinh rạch quan trọng là kinh Cà Mau: Giá Rai, sông Cổ C̣, sông Gành Hào, kinh Quan Lộ - Phụng Hiệp, kinh Quan Lộ - Bạc Liêu, kinh Quan Lộ - Giá Rai, kinh Trèm - Hộ Pḥng, kinh Gành Hào - Giá Rai, kinh Canh Dền - Quan Lộ, rạch Trà Niên...

Con kinh đào Cà Mau - Giá Rai quan trọng hơn cả, từ Cà Mau chảy suốt đến tận sông Vĩnh Lợi nối vào sông Cổ C̣, rồi chia làm hai nhánh, một nhánh rẽ lên Sóc Trăng, nhánh c̣n lại chảy ra cửa Mỹ Thanh.

Thị xă Bạc Liêu được xây dựng bên rạch Bạc Liêu, cách biển 10 km (6 miles), là trung tâm lúa gạo và đầu mối giao lưu trong và ngoài tỉnh. Từ Bạc Liêu đi Sài G̣n 280 km (175 miles), đi Sóc Trăng 50 km (31 miles), đi Cà Mau 69 km (43 miles).

Đất đai Bạc Liêu màu mỡ, dân cư đông đúc, phần lớn sống bằng nghề trồng lúa, hoa mầu, cây ăn trái, đánh bắt hải sản và nghề làm muối. Khí hậu Bạc Liêu có hai mùa: Mùa khô từ tháng Mười Một đến tháng Chín, nhưng các tháng Tư và Năm thường có mưa; mùa mưa chính thức từ tháng năm đến tháng Mười.

Thời nhà Nguyễn, thế kỷ 18, Bạc Liêu thuộc phủ Băi Xâu, tỉnh An Giang. Bạc Liêu được thành lập muộn hơn các tỉnh Nam kỳ khác. Tiểu khu Bạc Liêu được h́nh thành từ cuối năm 1882 do thống đốc Le Mery de Villers kư nghị định lấy một phần đất của hai tiểu khu Sóc Trăng và Rạch Giá.

Ngày 20/12/1989, toàn quyền Paul Doumer đổi tiểu khu thành tỉnh Bạc Liêu. Bạc Liêu đă có một vị trí khá quan trong trong chiến lược khai thác và xây dựng của người Pháp. Bạc Liêu vốn là xứ của một số đại điền chủ Nam kỳ lục tỉnh, mà đến nay vẫn c̣n khá nhiều dinh thự, biệt thự theo lối kiến trúc phương Tây đă tạo cho Bạc Liêu một nét đặc thù riêng rất thú vị.

 

THẮNG CẢNH

Sân Chim Bạc Liêu: Cách thị xă Bạc Liêu 5 km (3 miles) về phía đông thuộc xă Mỹ Thành, sân chim là một trong những điểm du lịch sinh thái hấp dẫn nhất của đồng bằng sông Cửu Long. Sân chim luôn tạo ra những bất ngờ và sửng sốt cho du khách đến thăm.  Mới bước vào sân chim bạn đă thấy ngay cảnh náo nhiệt của một sân chim tự nhiên. Những trứng chim đó đây trên mặt đất như ḥn cuội trắng. Các loại chim thường hay làm tổ để tránh các loài khác đến bắt chim con... Len lỏi trong sân chim, bất chợt bạn có thể nh́n thấy loài chim có sải cánh dài tới 2 m (6 ft), nặng tới 10 kg... Các loài chim thường tụ tập nhiều nhất vào mùa mưa từ tháng 5 đến hết tháng 10. Chúng làm tổ trên cây đến khoảng tháng 1, rồi bay đi nơi khác và bay về đây vào tháng 5 hoặc tháng 6.

 

KINH TẾ

Người Kinh sống sống trong tỉnh đông nhất, rồi đến người Việt gốc Khmer và gốc Hoa. Dân ta theo các đạo Phật, Ḥa Hảo, Cao Đài, Thiên Chúa, thờ phụng Tổ tiên và Thần thánh. Trước đây, người Trung Hoa từ miền Hoa Nam đến đây lập nghiệp rất đông, phần lớn là người Triều Châu và Phúc Kiến. V́ thế, Bạc Liêu và Ba Xuyên là nơi hỗn hợp ba trào lưu văn hóa Việt - Hoa - Miên rất sinh động và độc đáo. Trong câu nói, nhiều lúc có cả ba ngôn ngữ.

Đất Bạc Liêu trồng lúa rất tốt, nhất là ở hai vùng ruộng rộng lớn Vĩnh Lợi và Giá Rai. Các hoa màu phụ đáng kể là các cây ăn trái như dứa, dừa và nhăn. Dứa Thới B́nh khá nổi tiếng. Nhiều vườn nhăn mọc như rừng kéo dài hàng trăm cây số. Nhăn Bạc Liêu ngon nhất miền Tây, dầy cơm, nước ngọt lịm mà hột rất nhỏ.

Bạc Liêu do phù sa bồi đắp từ nhiều thế hệ trước nên rừng sác có mặt ở khắp nơi, gồm các loại cây bần, mắm, đước, chàm, gỗ tạp, nhất là mật và sáp ong. Ngày xưa, tổ ong bám dày đặc trên cây chàm, cây giá nhưng không ai lấy. Lâu dần, rớt xuống trôi dầy trên sông rạch. Măi đến đời Tự Đức, mới có người vào sâu bên trong sinh sống. Sau đó, địa phương mới chia lô đấu thầu khai thác mật và sáp ong. Họ dùng các rạch nhỏ làm ranh giới thiên nhiên để chia khu vực đấu thầu, gọi là ngan. Từ đó có các địa danh như Ngan Gừa, Ngan Trâu, Ngan Rít...

Bạc Liêu c̣n có một kỳ quan là sân chim, quy tụ nhiều loại chim quư hiếm. Có thứ to như chằng bè, già đây, long ô... Cứ mỗi buổi chiều, chim từ các nơi bay về rợp một góc trời, rộn ràng đủ loại âm thanh. Sân chim có thời là tài nguyên khá lớn của địa phương, nhưng bị khai thác bừa băi lấy lông làm quạt bán nên nhiều giống chim gần như bị tuyệt chủng. Nay chỉ c̣n một ít sân chim.

Một nguồn lợi khác làm giàu cho Bạc Liêu là muối. Vào mùa thu hoạch, những "tu muối" cao ngất như núi chờ chuyển đi tiêu thụ. Chính là một muối mặn đó đă ướp những con cá lóc, cá sặt nơi sông rạch thành khô, mắm thơm lừng. Món "mắm và rau" hoặc món "bún nước lèo" của Bạc Liêu có hương vị tuyệt vời.

Phía nam là biển nên đồng bào ta làm nghề đánh cá và làm muối khá đông. Cuộc sống của đồng bào trong tỉnh rất sung túc v́ các nguồn lợi về canh nông, ngư nghiệp và nuôi gia súc. Câu nói ví "tiêu xài như công tử Bạc Liêu" cũng phần nào nói lên cuộc sống phú túc đặc biệt của tỉnh này.

 

LỊCH SỬ

Tên "Bạc Liêu" do chữ Khmer "Po-Loeuh" (đọc là P̣ Léo, nghĩa là cây đa cao), nguyên xưa là huyện Trần Di thuộc trấn Hà Tiên, do Mạc Thiên Tích lập từ năm Ất Măo 1735. Thời Tự Đức, vùng này thuộc phủ Ba Xuyên, rồi tách ra lập thành huyện Phong Thạnh trực thuộc phủ.

Thời Pháp thuộc, quân Pháp đặt thành tỉnh thứ 20 của Nam Kỳ, ngày 18/12/1882, gồm các quận Giá Rai, Cà Mau, Thới B́nh, Quản Long, Tân Bằng, Năm Căn và Vĩnh Châu. Giặc Pháp biết Bạc Liêu là vùng đồng lầy, nhiều lau sậy, dưng, lác rất hiểm trở, sẽ là nơi lập căn cứ của các cuộc nổi dậy nên dùng nhiều biện pháp an ninh đe dọa dân chúng. Nhưng dân ta vẫn bí mật tổ chức nhiều hội kín kháng Pháp.

 

DI TÍCH

Tháp Cổ Vĩnh Hưng: Cách thị xă Bạc Liêu 20 km (13 miles) về phía tây bắc, thuộc địa phận ấp Trung Hưng, xă Vĩnh Hưng, huyện Vĩnh Lợi. Tháp cổ Vĩnh Hưng là di tích kiến trúc cổ duy nhất c̣n được bảo tồn ở đồng bằng sông Cửu Long của người Khmer Nam bộ, dấu vết của khu dân cư đă tồn tại và phát triển từ nhiều thế kỷ. Tháp ở gần chùa Vát Bhah Dhah. Theo người dân quanh vùng kể lại, trong tháp có cốt tro di hài của ông vua Khmer Pudum Surivam, người đă từng có mặt ở vùng này khá lâu. Vào các năm 1911, 1917, 1959, các nhà khảo cổ đă phát hiện nhiều hiện vật trong khu vực tháp, chủ yếu là vật thờ cúng. Đặc biệt có tấm bia t́m thấy trong chùa cạnh tháp, khắc chữ Phạn được ghi rơ tháng Karhila năm 814 tương ứng với năm 892 (sau Công nguyên) và tên vua Yacovan - Man (thế kỷ 9).

Tháp Vĩnh Hưng được dựng trên một doi đất, chân tháp h́nh chữ nhật, một cạnh dài 5,6 m (16,8 ft); cạnh kia dài 6,9 m (20,7 ft), cao 8,9 m (26,7 ft) xây bằng gạch ghép khít lại. Tháp có cấu trúc khá đơn giản, có một gian h́nh chữ nhật, tường dày, nóc cao uốn thành ṿm với một cửa chính. Trong tháp có: một bàn tay tượng thần bằng đồng, một phần thân dưới của tượng nữ thần, tượng nữ thần bằng đá xanh, tượng nữ thần Brahma mặt bằng đồng, đầu tượng Phật bằng đồng... và một số vật thờ khác. Mỗi ngày nhà sư trong chùa tháp tụng kinh hai lần bằng tiếng Việt vào lúc 4 giờ sáng và 4 giờ chiều. Hàng năm nhân dân địa phương tổ chức giỗ lớn tại tháp vào ngày 15/1 âm lịch. Đây là dịp có đông Phật tử trong và ngoài tỉnh đến cúng bái.

Chùa Xiêm Cán: Cách thị xă Bạc Liêu 7 km (4 miles) trên đường ra vườn chim Bạc Liêu, Xiêm Cán là một ngôi chùa của người Khmer có kiến trúc giống như những ngôi chùa Khmer khác ở Trà Vinh hoặc Sóc Trăng. Chùa đă tồn tại hơn một thế kỷ nay. Chùa được xây cất đồ sộ chạm trổ và trang trí theo phong cách độc đáo.

Chùa Quan Đế (Chùa Ông): Là một kiến trúc đ́nh chùa mang đậm bản sắc dân tộc Hoa, nằm ven sông Bạc Liêu. Người Hoa ở Bạc Liêu xem đây như một biểu tượng văn hóa cho dân tộc ḿnh. Chùa được xây năm 1835, do ông chủ tô muối Châu Quai đứng ra vận động đóng góp. Bên trong chùa c̣n giữ được khá nhiều bức hoành lớn. Một số được các nghệ nhân người Hoa chạm khắc từ những năm 1865 - 1897. Ngoài ra chùa Quan Đế c̣n có một án thư quí giá.

Chùa thờ Quan Vân Trường thời Tam Quốc. Trong điện thờ có bức tượng Quan Công mặc giáp trụ uy nghi, hai bên là Quan B́nh và Châu Xương. Theo người Hoa ở Bạc Liêu họ chọn thờ Quan Công bởi họ coi trọng chữ tín trong làm ăn buôn bán, chùa Ông là nơi họ đến cầu khẩn, thậm chí giao kèo với nhau trong mua bán. Ngoài ra trong chùa c̣n thờ Thiên Hậu, Thần Tài. Chùa Ông là một trong những điểm tham quan ở thị xă Bạc Liêu.

Chùa Mới Ḥa B́nh: Là một ngôi chùa Khmer hay c̣n gọi là Se Ray Vong Sa, cách thị xă Bạc Liêu 13 km (8 miles) về phía nam, trên quốc lộ 1 nối từ Bạc Liêu sang thị xă Cà Mau (bên tay trái). Chùa được thiết kế rất độc đáo với cột bảo tháp vĩ đại của chùa rất dễ gây sự chú ư cho du khách. Chùa xây dựng vào năm 1952, nhưng đến năm 1990 khu bảo tháp mới được xây tiếp, phía trước là nhà hội họp to và rộng. Chùa Mới Ḥa B́nh c̣n là trường dạy học cho một số ít tín đồ Phật tử và tông ni Khmer của tỉnh Minh Hải cũ (v́ phần lớn người Khmer theo học kinh, học chữ và học đạo lư làm người ở các chùa Khmer tại Sóc Trăng).

 

LỄ HỘI

Phần lớn dân cư Bạc Liêu là người Việt (Kinh), người Khmer chiếm 4,7% tập trung ở đông bắc Bạc Liêu và huyện Giá Rai; người Hoa chiếm 3,3%. Là vùng đất trù phú thịnh vượng, người dân Bạc Liêu hiền ḥa, hiếu khách, có phong cách sống phóng khoáng đặc trưng của vùng Nam bộ. Du khách đến Bạc Liêu sẽ hiểu thêm về giai thoại của công tử Bạc Liêu lừng danh một thuở giàu có và chịu chơi. Đây là nơi dừng chân cuối cùng của cố nhạc sĩ Cao Văn Lâu, ông đă sáng tác bài "Dạ Cổ Ḥai Lang" tiền thân của bài ca vọng cổ, loại ca nhạc tài tử Nam bộ rất phổ biến ở Bạc Liêu.

Đến Bạc Liêu du khách ghé thăm sân chim Bạc Liêu, vườn nhăn Bạc Liêu, tháp cổ Việt Hưng, chùa Xiêm Cán, hoặc đi thăm những rừng đước, rừng tràm, căn cứ tự nhiên trong kháng chiến chống xâm lược. Nếu đúng dịp vào mùa cúng đ́nh, du khách c̣n được tham dự vào lễ cúng Kỳ Yên tại đ́nh làng, được coi hát bội và vui chơi suốt ba ngày đêm. Nơi đây c̣n có các lễ Chol Chnam Thmay (Tết đầu năm), Lễ Đôn Ta (lễ xá tội vong nhân Phật giáo tiểu thừa), lễ Trông Trăng (Ok Om Bok)... của người Khmer rất sôi động và lư thú.

Trở Lại

     -o0o-

 

Xin gởi bài mới và ư kiến đóng góp về Tạng Thư Phật Học qua địa chỉ email: tangthuphathoc@gmail.com