Sóc Trăng
ĐỊA LÝ
Diện
tích: 3.223,30 km2.
Dân số (2004) 1.257.982 người.
Tỉnh lỵ: Thị xã Sóc Trăng.
Các huyện: Kế Sách, Mỹ Tú, Mỹ Xuyên, Thạnh Trị, Long
Phú, Vĩnh Châu, Cù Lao Dung, Ngã Năm.
Dân tộc: Việt (Kinh), Khmer, Hoa.

Cách thành phố
Sài Gòn 231 km (144 miles), thành phố Cần Thơ 60 km
(38 miles), Sóc Trăng giáp với các tỉnh Trà Vinh,
Vĩnh Long, Cần Thơ, Bạc Liêu và biển đông. Sóc Trăng
có 72 km (45 miles) bờ biển, 30.000 ha bãi bồi, khí
hậu mang tính chất khí hậu đại dương hai mùa: mùa
mưa từ giữa tháng 5 đến tháng 11 và mùa khô từ tháng
12 đến tháng 5 năm sau. Nhiệt độ trung bình cả năm
26 độ- 28 độ C.
Sóc Trăng là
tỉnh chủ yếu phát triển nông nghiệp. Diện tích đất
nông nghiệp 259.799 ha, trong đó đất trồng lúa chiếm
94%, ngoài ra còn trồng bắp, đậu xanh, đậu nành, mít,
dừa, hành tỏi (Vĩnh Châu) thơm ngon nổi tiếng và các
vườn cây ăn trái như nhãn, chôm chôm, sầu riêng,
cam, quít... trên cù lao Mỹ Phước và
đất
liền Vĩnh Châu.
THẮNG CẢNH
Cồn Mỹ
Phước: Nằm giữa
sông Hậu, đi canô từ thị xã mất nữa giờ, cồn Mỹ
Phước còn được gọi là cồn Công Điền hay cồn Bùn,
quanh năm đầy cây trái của vùng nhiệt đới. Cồn với
không gian bao la rộng mát, với sông nước hữu tình
thơ mộng, là một điểm du lịch hấp dẫn của tỉnh Sóc
Trăng.
Hồ Nước
Ngọt: Nằm trên
đường vào thị xã, với diện tích 4 ha, gồm hai hồ lớn
nhỏ, phong cảnh thanh lịch mát mẻvới hàng dương liễu
rủ xuống mặt hồ. Đây là một nơi đi dạo thú vị cho du
khách.
Vườn Cò
Thanh Trì: Thuộc xã
Tân Long, huyện Thạnh Trị, cách thị xã 40 km (25
miles). Đã từ lâu rồi nơi đây hình thành một sân
chim với hàng vạn cánh cò trắng sống chen chúc giữa
những ao đầm tự nhiên. Vườn cò Thanh Trì là một điểm
du lịch xanh và quan sát chim lý thú.
KINH TẾ
Đất
Sóc Trăng có phù sa sông Hậu Giang bồi lên mỗi năm
nên rất tiện lợi cho ngành canh nông và phần lớn
thuộc loại phù sa mặn như các quận: Thạnh Trị, Long
Phú và Mỹ Xuyên. Hoa màu chính là lúa gạo, trong đó
gạo Ba Xuyên nổi danh thơm ngon
Các
hoa màu phụ phần lớn là cây ăn trái trồng ở vùng đất
cao dọc theo sông Hậu Giang như: cam, sầu riêng,
xoài, dừa, măng cụt, chuối, mía,... Các vườn trồng
nhiều quít và chuối ở quận Kế Sách và mía ở quận
Long Phú rất nổi tiếng.
Rừng
nước cũng có nhiều gỗ tạp, tràm, đước, bần... Vì
sống gần biển và kinh rạch nên dân chúng của theo
nghề đánh cá, làm muối và nuôi cá nước ngọt. Bờ biển
Sóc Trăng là nơi quy tụ nhiều tôm thẻ, tôm càng xanh...
LỊCH SỬ
Theo
tài liệu "Gia Định Nhất Thống Chí" của Trịnh Hoài
Đức. Người Việt Nam đến miền này từ đời Võ Vương
Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765). Năm 1757, đời vua Lê
Hiến Tông, tranh giành vương quyền xảy ra ở Cao Miên
giữa Nặc Nhuận (kế nghiệp vua Nặc Ông Nguyên) và Nặc
Hinh, khiến Nặc Nhuận cầu cứu bên ta (trước khi bị
giết). Chúa Nguyễn theo báo cáo của Mạc Thiên Tử ở
Hà Tiên bèn sai Nguyễn Phúc Du đem quân đánh giúp,
lập lại trật tự và
đưa
con Nặc Nhuận là Nặc Tôn lên ngôi. Nặc Tôn cắt đất
Tầm Phong Long tạ ơn chúa Nguyễn. Đất này gồm các
miền từ Châu Đốc đến Long Xuyên, Ba Thắc... Chúa
Nguyễn cũng ra lệnh cho Nguyễn Phúc Du, và Nguyễn Cư
Trinh chia đất ra làm nhiều đạo như Đông Khấu Đạo ở
Sa Đéc, Tân Châu Đạo ở Tiền Giang và Châu Đốc Đạo ở
Hậu Giang. Đất Ba Thắc đổi thành phủ Ba Xuyên thuộc
tỉnh An Giang. An Giang (gồm cả Vĩnh Long) là trấn
Vĩnh Thanh, một trong năm trấn của Gia Định thành
vào thời Gia Long và một trong sáu tỉnh thời Minh
Mạng.
Thời
Pháp đặt tên đất nầy và một phần của tỉnh Bạc Liêu
là Sóc Trăng. Tháng 8-1867, dân chúng ở Sóc Trăng
theo ông Chưởng đánh Pháp. Dùng súng đạn ít, dân ta
dùng dao mác, lập căn cứ trong vùng đánh trường kỳ.
DI TÍCH
Chùa Khmer
Ở Sóc Trăng: Sóc
Trăng là tỉnh có đông người Khmer sinh sống. Người
Khmer theo đạo Phật tiểu thừa. Chùa Khmer có kiến
trúc độc đáo, trang trọng và uy nghi. Ngôi chùa là
trung tâm văn hóa, nơi tổ chức các lễ hội lớn hàng
năm, là nơi học kinh, học chữ, học đạo lý làm người,
là nơi lưu giữ các kinh điển, đạo Phật và cũng là
nơi sinh hoạt văn hóa, nghệ thuật giải trí vui chơi
của tăng ni, tín đồ phật tử. Mỗi ngôi chùa mang một
dáng vẻ riêng khác nhau, trong đó chùa Kh'leng là di
tích văn hóa dân tộc. Chùa Pê-ang-Sòm-Ralt vẫn duy
trì trường phái Pali của các sư sãi từ năm 1937 đến
nay.
Chùa
Kh'leang: Là một
trong những ngôi chùa cổ nhất ở Sóc Trăng có kiến
trúc giống như các chùa ở Cămpuchia. Chùa tọa lạc ở
71 đường mậu thân, khóm 5, phường 6, thị xã Sóc
Trăng. Chùa xây dựng từ năm 1533 lúc đầu còn làm
bằng gỗ, lợp lá, sau mới được xây cất lại bằng gạch
ngói. Kiến trúc hiện nay là do lần trùng tu cách đây
hơn 80 năm.
Chùa có cổng ra vào xây cất công phu. Chùa bao gồm:
ngôi chính điện (ngôi Sala), là một dãy nhà sàn cách
mặt đất 1 m (3 ft) bằng gỗ (nhà hội của sư sãi và
tín đồ Phật tử), dùng làm nơi tổ chức những sinh
hoạt theo nghi lễ cổ truyền; nhà ở của sư trụ trì,
nhà ở của các sư sãi. Ngoài ra còn có tháp đựng tro
cốt người chết, lò thiêu xác người chết, nhà khách,
trường học Pô thi dạy bằng tiếng Khmer. Trong đó nổi
bật hơn cả là ngôi chánh điện nằm biệt lập ở bên
trái con đường dẫn vào chùa, có kiến trúc khá phức
tạp và
độc
đáo. Bờ mái gồm ba cấp, mỗi cấp chia ba nếp. Nếp
giữa lớn hơn nếp phụ ở hai bên và không có tháp nóc.
Chính điện được xây dựng vào năm 1918, dựng bằng 6
hàng cột gồm 60 cây cột trụ. Chùa Kh'leng tọa lạc
trong một khuôn viên rộng 3.825m2 (34,425 sq ft), có
hàng rào bao quanh.
Hiện nay tại chùa Kh'leng còn lưu giữ một bản sao
tài liệu ghi chép từ thư tịch cổ, trong đó có nói
đến nguồn gốc địa danh Sóc Trăng, lịch sử xây dựng
chùa đầu tiên. Vào đầu thế kỷ 16, viên quan cai quản
vùng Sóc Trăng tên là Tác đã cho xây dựng một nhà
kho để tích trữ sản vật do nhân dân quyên góp. Từ đó
ông đặt tên cho vùng đất mình cai quản là Srosk
Khleng. Khi người Kinh đến gọi là sóc khalang, rồi
sau là Sóc Trăng. Sau đó vào năm 1532, ông Tác vâng
lệnh vua Ang Chan (Chân Lạp) cho xây dựng một ngôi
chùa và lấy địa danh đặt tên cho chùa là chùa
Kh'leng. Chùa theo đạo Phật phái Tiểu thừa, thờ Phật
Thích Ca, không có nữ tu.
Hàng năm, chùa Kh'leng còn là nơi diễn ra những nghi
lễ quan trọng nhất trong những ngày lễ truyền
thốngcủa dân tộc Kh'leng như: lễ vào năm mới ( Chol
Chnam Thmay) còn gọi là lễ chịu tuổi; lễ cúng ông bà
(lễ Dôn Ta); lễ cúng trăng vào ngày 15/10 âm lịch và
tổ chức đua ghe. Ngoài các lễ hội truyền thống trên,
chùa còn tổ chức các lễ hội Phật giáo. Người Khmer
thường lui tới chùa để cầu nguyện.
Chùa Dơi
(Chùa Mã Tộc, Chùa Ma-ha-tuc):
Cách thị xã Sóc Trăng chưa đầy
2 km (1,25 miles) có một ngôi chùa được nhiều khách
thập phương trong nước và nước ngoài tìm đến. Chùa
Dơi còn gọi là chùa Mã Tộc hay là chùa Ma-ha-tuc,
cách nói nào cũng đúng cả. Còn với nhà sư Kim Rông,
pháp hiệu Rat-ta-na xô-oa-nac trụ trì chùa đã lâu
thì cho biết: khách thập phương tìm đến chùa, trước
là lên điện Phật thắp hương, tham quan những bảo vật
quý thờ trong chùa như: hàng ngàn tượng Phật và
tượng tứ linh: long, lân, quy, phượng... đều nặn từ
đất sét, sau đó khách xin ra vườn chùa để được chiêm
ngưỡng đ
àn
dơi... Chùa Mã Tộc xây dựng cách đây gần 400 năm,
nơi đây tụ tập loài dơi, quạ khoảng trên dưới 1
triệu con. Chúng treo mình trên những cành cây trong
khuôn viên chùa suốt ngày, từ 6 giờ sáng đến 6 giờ
30 chiều dơi bay đi kiếm ăn để 5 giờ sáng hôm sau
lại quay về. Dơi không bao giờ ăn các trái cây ở
chùa. Chùa Mã Tộc đơn sơ với thiên nhiên xanh và
đ
àn
dơi, quạ đông đến kỳ lạ làm cho du khách giật mình
thích thú.
Chùa Đất
Sét: Nằm trên phố
Mậu Thân, thị xã Sóc Trăng. Chùa đất sét là ngôi
chùa của người Hoa rất độc đáo vì được xây dựng từ
đất sét. Thậm chí tượng trong chùa cũng được nặn từ
đất sét. Đây là ngôi chùa linh thiêng đối với dân
địa phương. Khác hẳn với các ngôi chùa của người
Việt và Khmer tại Sóc Trăng, chùa còn có tên khác là
" Bửu Sơn Tự" có nghĩa là
đền
thờ núi trước. Chùa được lập cách đây hơn 200 năm do
gia đình họ Ngô người Hoa đứng ra xây cất.
Nhà Bảo
Tàng Văn Hóa Khmer:
Đối diện với chùa Kh'leng tại thị xã Sóc Trăng, nhà
bảo tàng được kiến trúc theo kiểu chùa của người
Khmer, trong đó có khá nhiều hiện vật về đời sống
văn hóa tinh thần, vật chất và sự phát triển kinh tế
xã hội của dân tộc Khmer tại Sóc Trăng. Đây cũng là
điểm
du lịch của du khách gần xa.
LỄ HỘI
Ở
Sóc Trăng người Việt ( Kinh)
chiếm 65% dân số của tỉnh, còn lại là người Khmer
28%, và khoảng 7% người Hoa, nên nét sinh hoạt văn
hóa ở đây mang đậm màu sắc của ba dân tộc. Toàn tỉnh
có 89 chùa Khmer, 47 chùa Hoa trong đó có những chùa
nổi tiếng như chùa Mã Tộc (chùa Dơi), chùa Chruitim
Chas, nhà bảo tàng, trung tâm nghiên cứu văn hóa
Khmer, chùa Đất Sét, chùa Chén Kiểu... Ngoài những
nét đặc thù chung của đồng bằng sông Cửu Long, Sóc
Trăng còn được mệnh danh là sứ sở của lễ hội Nam bộ,
hàng năm thu hút đông đảo khách thập phương về đây
dự lễ và thưởng ngoạn.
Lễ Ok Om Bok Và Hội Đua
Ghe Ngo: Là lễ cúng
trăng của đồng bào Khmer Nam bộ, được tổ chức vào
ngày 15/10 (theo âm lịch), để tạ ơn thần mặt trăng
đã cho mùa màng tươi tốt, sông ngòi nhiều tôm cá,
người người ấm no hạnh phúc. Theo tín ngưỡng dân tộc
Khmer, mặt trăng được coi như một vị thần điều động
mùa màng trong năm.
Tối hôm rằm khi mặt trăng vừa ló dạng, người ta bày
mâm cỗ trước sân chùa hoặc sân nhà gồm đĩa cốm dẹp,
chuối chín, dừa tươi gọt vỏ, khoai mì... Các gia
đình làm lễ cúng và thả những chiếc đ
èn
giấy bay lên trời, những chiếc bè chuối có gắn đ
èn
và bày lễ vật trôi trên kênh, rạch, sông.
Sôi nổi nhất là trong dịp lễ cúng trăng đồng bào
Khmer tổ chức cuộc đua ghe ngo rất vui tươi hào
hứng. Ghe ngo tiếng Khmer là "Tuk ngo", một loại
thuyền độc mộc lớn khoét từ thân cây gỗ tốt, hình
thon, dài, mũi và lái đều được trang trí màu sắc sặc
sỡ do các trai tráng từ các phum, sóc tham gia đua
tài. Khi bơi đòi hỏi nghệ thuật điêu luyện, nếu
không rất dễ bị lật thuyền. Là lễ hội tưng bừng náo
nhiệt nhất, được chuẩn bị khá công phu, một hoạt
động văn hóa thể thao thu hút hàng vạn người tham
gia. Đồng thời còn là hội nước phổ biến của cư dân
Đông Nam Á, cho nên nó còn được tổ chức tại các tỉnh
thuộc đồng bằng sông Cửu Long, nơi có đồng bào Khmer
sinh sống.