Vĩnh Long
ĐỊA LƯ
Diện
tích: 1.475 km2.
Dân số (2004): 1.049.736 người.
Tỉnh lỵ: Thị xă Vĩnh Long.
Các huyện: Long Hồ, Măng Thít, B́nh Minh, Tam B́nh,
Trà Ôn, Vũng Liêm.
Dân tộc: Việt (Kinh), Khmer, Hoa.
Nằm trên đồng bằng châu thổ Cửu Long tỉnh Vĩnh Long
không có núi, địa thế là
đồng
bằng do phù sa bù
đắp.
Hai con sông quan trọng là Tiền Giang và Hậu Giang.

Sông Tiền Giang đến An
Thành chia làm hai nhánh, một nhánh chảy vào Vĩnh
Long gọi là Cổ Chiên (ở đây có một số cù lao lớn như
cù lao Dài, cù lao Tân Phong, cù lao An Thành), một
nhánh chảy về phía Đông Nam vào hai tỉnh Định Tường
và Kiền Ḥa.
Sông Hậu Giang chảy hướng
Tây Nam, chia ranh giới với tỉnh Phong Dinh (có cù
lao Tân Ngăi, tức cù lao Mây, khá lớn). Ngoài ra c̣n
có kinh rạch ngang dọc khắp tỉnh: đặc biệt có kinh đ
ào
Mang Thít chảy dài từ quận Minh Đức đến quận Trà Ôn,
nối liền hai sông Tiền Giang và Hậu Giang, rút ngắn
đường vận chuyển các loại nông sản từ các tỉnh miền
Tây về Sài G̣n.
Khí hâu ở đây nóng ẩm, với
hai mùa mưa, nắng rất rơ rệt. Mực nước lên cao từ
tháng Năm đến tháng Bảy âm lịch (ca dao có câu "tháng
Bảy nước chảy khỏi bờ" là vậy), và bắt đầu xuống từ
tháng Tám cho đến tháng Mười âm lịch mới b́nh lại.
V́ kinh rạch nhiều, nhất là nhờ hai con sông Tiền,
sông Hậu nên rút ra biển rất nhanh, không bị lụt như
ở Mỹ Tho và Kiến Phong.
Là tỉnh ở giữa đồng bằng
sông Cửu Long, Vĩnh Long có đất đai màu mỡ do được
sông Tiền và sông Hậu bồi đắp phù sa hàng năm. Trồng
trọt là một thế mạnh của tỉnh. Bên cạnh cây lúa (90%
diện tích đất trồng lúa), hàng năm người dân Vĩnh
Long c̣n thu hoạch hàng trăm ngàn tấn trái cây như
cam, nhăn, quít, bưởi, dừa... và chăn nuôi gia súc
gia cầm.
THẮNG CẢNH
Cù Lao An B́nh Và B́nh
Ḥa Phước: Là cù
lao giữa trên sông Tiền, đối diện với thị xă Vĩnh
Long, nơi tập trung nhiều điểm du lịch. Cù lao rộng
hơn 60 km2 (27 sq miles), gồm 4 xă: An B́nh, B́nh
Ḥa Phước, Ḥa Ninh và Đồng Phú. đất đai màu mỡ và
trù phú, nước ngọt quanh năm, dân cư trồng nhiều cây
ăn trái như: chôm chôm, xoài, nhăn, sầu riêng,
sapôchê... Các điểm du lịch trên cù lao này là:
Vườn cảnh bonsai của ông Sáu Giáo tại ấp B́nh Thuận
xă Ḥa Ninh với hàng trăm các loại cây cảnh: mai
vàng, mai chiếu thủy, lài... xung quanh nhà là vườn
nhăn và ao nuôi cá tai tượng, loại cá thịt ngon. Nhà
sàn ông Mười đầy: nhà sàn cất bằng gỗ trên rạch Ninh
Ḥa, phía sau nhà là vườn nhăn, bưởi, sa-pô-chê.
Ngôi nhà xưa ông Hai Hoàng được xây theo kiến trúc
Pháp có sân rộng và phía sau là vườn chôm chôm và
nhăn.
Các vườn trái cây đặc sản khác: vườn chôm chôm ông
Chín Hoán, vườn chôm chôm ông Chín Cần, vườn nhăn
tiêu ông Tám Hổ, và vô số các vườn trái cây khác.
Vườn bưởi trên cù lao Mỹ Ḥa huyện B́nh Minh, cách
Vĩnh Long chừng 30 km (19 miles), chuyên trồng bưởi
năm roi, loại bưởi ngon nổi tiếng của vùng đồng bằng
sông Cửu Long.
Khu du lịch Trường An:
Trường An có diện tích rộng 16
ha nằm sát bên sông Tiền, cách thị xă Vĩnh Long 4 km
(2.5 miles). Là khu du lịch của tỉnh Vĩnh Long,
Tường An có phong cảnh thiên nhiên hữu t́nh, cây
trái xanh mát quanh năm, không khí trong lành. Tại
đây đă có những biệt thự với kiến trúc thanh lịch,
nhà nghỉ, nhà hàng phục vụ các món ăn miền Tây Nam
Bộ.
Trung tâm Fatima:
Là một thắng cảnh, nhất là vào
những ngày lễ đạo lớn trong năm được xây dựng cạnh
quốc lộ 4, trên đường ra bến phà Mỹ Thuận. Trung tâm
được trang trí bằng nhiều hoa kiểng đẹp, được dân
chúng theo đạo Thiên Chúa ở Vĩnh Long xem là thánh
địa của địa phận ḿnh.
Cù Lao Dài:
Thuộc quận Vũng Liêm, dài 17
cây số. Đây là vùng đất do công khai phá của ông
Nguyễn Văn Thoại, công thần nhà Nguyễn. Năm 1917 (Đinh
Sửu), ông bắt đầu cho di dân đến vùng nầy và lập ra
năm làng Phú Thái, Phước Khánh, Thái B́nh, Thanh
Lương và B́nh Thạnh. Sau đó, nhà cửa, đ́nh chùa, cầu
lộ được xây lên nhiều và dân sống trên cù lao này
rất thịnh vượng. Ngày nay, cù lao Dài thuộc xă Quới
Thiện và c̣n các di tích như lăng, mộ của nhiều
người trong ḍng họ ông Nguyễn Văn Thoại và những
quan chức thời bấy giờ, trong số này có lăng và mộ
cụ bà Nguyễn Thị Tuyết, thân mẫu ông Nguyễn Văn
Thoại.
KINH TẾ
Dân
chúng sinh sống ở Vĩnh Long hầu hết là người Kinh,
có một số đồng bào gốc Khmer ở tập trung trong năm
xă thuộc các quận B́nh Minh (xă Đông Thành), quận
Tam B́nh (xă Loan Mỹ), quận Trà Ôn (xă Trà Côn) và
quận Vũng Liêm. Các tôn giáo chính gồm có đạo Phật,
Cao Đài, Ḥa Hảo và Thiên Chúa.
Hầu hết dân chúng đều sống
nghề nông, do chất đất được phù sa từ hai sông Tiền,
sông Hậu bồi đắp hằng năm. V́ thế, lúa, các loại hoa
màu, cũng như cây ăn trái rất tươi tốt, nhất là trên
các cù lao. Nhiều loại lúa Vĩnh Long nổi tiếng thơm
ngon, như lúa móng chim, ư đông, nếp hương bầu, nếp
than. Nhiều loại hoa màu phụ là khoai lang đỏ, khoai
sắp, khoai tía, các loại đậu... Cây công nghiệp như
mía, thuốc lá, đậu phọng, dừa, đậu nành, bố, lát...
được trồng khắp nơi trong tỉnh. Quận Tam B́nh và Trà
Ôn chuyên về trồng mía. Ven sông Tiền và Hậu, dân
chúng trồng dừa, thuốc lá.
Các loại cây ăn trái nổi
tiếng như dưa hấu, dưa hùm, dưa vàng, xoài, mít, dừa,
cam, ổi xá lị, chuối, cau, măng cầu, lựu... Các quận
Châu Thành, B́nh Minh, Chợ Lách và Tam B́nh có diện
tích trồng xoài nhiều nhất tỉnh, được phân phối đến
các tỉnh khác với số lượng khá cao. Ở quận Châu
Thành có trồng các loại hoa lài, hoa ngâu dùng cho
kỹ nghệ ướp trà. Quận Chợ Lách có các vườn hoa nổi
tiếng về các giống hồng, trúc đ
ào,
mẫu đơn, lan hồ điệp, mộc cẩn và các loại cây kiểng
khác...
Thổ sản của Vĩnh Long rất
phong phú và
đa
dạng. Cù lao Tân Phong ở quận Chợ Lách được biết
nhiều v́ xuất cảng chuối già hương, thơm ngọt nhất
miền Tây; v́ có những vườn quít đường, vườn chôm
chôm tróc và
đặc
biệt là trái vải tươi, sầu riêng, được trồng ở vùng
giáp ranh với Cáùi Mơn thuộc tỉnh Kiến Ḥa; đây là
loại trái vải đầu tiên được gây giống thành công ở
miền Tây.
Về công nghiệp, có các ḷ
đường ở dọc theo kinh Mang Thít, cung cấp đường thô
và
đường
hũ cho nhà máùy đường Hiệp Ḥa, cũng như các loại
đường vàng và
đường
thẻ cho dân chúng trong vùng. Có kỹ nghêä làm gạch
ngói ở các quận Châu Thành, Minh Đức và làm nhang ở
quận B́nh Minh. Dù là một tỉnh có diện tích nhỏ,
nhưng tiềm năng kinh tế của Vĩnh Long rất lớn, đặt
biệt là thương nghiệp.
LỊCH SỬ
Thời
các Chúa Nguyễn khai khẩn miền Nam, vùng Vĩnh Long
và An Giang nằm trong địa hạt dinh Long Hồ, sau đổi
thành dinh Vĩnh Trấn. Năm 1802, Gia Long chia lại
Nam Kỳ làm năm trấn, Vĩnh Long và An Giang họp thành
trấn Vĩnh Thanh. Năm 1832, Minh Mạng đổi các trấn
thành tỉnh; Nam kỳ gọi là Gia Định thành gồm sáu
tỉnh Vĩnh Long, Biên Ḥa, Gia Định, Định Tường, An
Giang và Hà Tiên.
Sau khi chiếm ba tỉnh miền
Đông, giặc Pháp tràn xuống miền Tây. Vĩnh Long là
địa
đầu mà chúng phải vượt qua. Ngày 20 -3 - 1862, tên
đề đốc Bonard đưa 11 pháo trạm và 1.000 quân đến nơi.
Tổng đốc Vĩnh Long Trương Văn Uyển điều binh chống
giữ. Ngày 21 - 3 pháo hạm giặc bắt đầu bắn phá như
mưa vào các tiền đồn trước khi đổ bộ. Quân ta chiến
đấu rất dũng cảm. Nhưng hỏa lực địch quá mạnh, ngày
22 - 3, hai tiền đồn Vĩnh Tồn và Vĩnh Mỹ Thạnh thất
thủ. Sáng ngày 23 - 3 thành lũy của Vĩnh Long bên bờ
sông Cổ Chiên bị chọc thủng. Tổng đốc Trương Văn
Uyển cho quân lui về Mỹ Quư (cách tỉnh lỵ Mỹ Tho 20
cây số về hướng Tây) thiết lập căn cứ mới tiếp tục
chiến đấu.
Qua ḥa ước Nhâm Tuất kư
ngày 11 - 6 - 1862 giữa triều đ́nh Tự Đức và Pháp,
ngoài việc mất ba tỉnh Định Tường, Biên Ḥa, Gia
Định, quân Pháp vẫn đóng binh trong tỉnh Vĩnh Long,
mặt dù
đất
vẫn thuộc quan triều đ́nh cai quản. Tháng 7 - 1864
việc thương thảo giữa triều đ́nh với Pháp để chuộc
lại ba tỉnh miền Đông thất bại, Pháp tiếp tục xâm
lược ba tỉnh miền Tây. Ngày 20 - 6 - 1867, tên Phó
đề đốc De la Grandière kéo quân thủy bộ đến chiếm
thành Vĩnh Long. Không giữ được thành Phan Thanh
Giản uống thuốc độc tự tử.
Cuối năm, ba người con của
ông là Phan Liêm, Phan Tôn và Phan Ngữ phất cờ khởi
nghĩa, đánh giặc Pháp lan rộng bốn tỉnh Vĩnh Long,
Sa Đéc, Vĩnh B́nh, Bến Tre. Năm 1872, các anh hùng
Âu Dương Lân, Lê Công Thành, Phạm Văn Đổng chiêu mộ
người có ḷng kháng chiến suốt vùng Vĩnh Long, Cần
Thơ và An Giang. Năm 1872 nghĩa quân vùng Vũng Liêm
trá hàng, phục kích tại cầu Vồng, giết tên Tham Biện
Salicetti và
đại
úy Bobin. Pháp sai Việt gian Tổng đốc Trần Bá Lộc
đem quân xuống đán áp trả thù. Tên Lộc tàn sát gần
trọn cả làng, chôn chung một hố gọi là Vũng Linh,
sau nầy đọc trại là Vũng Liêm.
DI TÍCH
Chùa Phước Hậu:
Chùa được xây dựng vào nửa
cuối thế kỷ 18 trên một khu đất rộng răi và yên tĩnh,
tại ấp Đông Phú, xă Ngăi Tứ, huyện Tam B́nh. Thiền
Sư Hoàng Chỉnh ở Quảng Ngăi vào tu đă trùng tu chùa
vào các năm 1895 và 1910. Chùa Phước Hậu tiếp tục
được trùng tu và mở rộng dưới thời Ḥa thượng Khánh
Anh từ năm 1939 và Ḥa thượng Thiện Hoa từ năm 1961
đến 1972. Ngoài các pho tượng Phật và tượng Thập Bát
La Hán, chùa c̣n có khu tháp đẹp, đó là tháp Thiên
Nga (dựng năm 1972) và tháp Đa Bảo (dựng năm 1966).
Chùa Tiên Châu (chùa Tô
Châu): Toạ lạc tại
xă An B́nh thuộc cù lao An B́nh, đối diện với thị xă
Vĩnh Long, bên kia bờ sông Cổ Chiên. Chùa Tiên Châu
do Ḥa thượng Đức Hội lập vào khoảng thế kỷ 19 trong
một khu đất rộng, thoáng mát. Chùa c̣n có tên là
chùa Di đ
à.
Kiến trúc mặt tiền và cổng chùa hiện nay được xây
dựng từ năm 1961 - 1963.
Chùa Saghmangala (chùa
Hạnh Phúc Tăng hay chùa Vũng Liêm):
Chùa tại xă Trung Thành, huyện
Vũng Liêm. đây là chùa Khmer Nam Bộ được xây dựng từ
lâu. Một số tài liệu cho biết chùa dựng vào năm
1339. Ngôi chính điện hiện nay được xây vào năm
1964, tam quan xây năm 1974, đặc biệt trên hai cột
của cổng tam quan có đắp nổi hai tượng Krud đỡ mái
tam quan rất độc đáo.
Chùa Kỳ Sơn:
Chùa được xây dựng cách đây
gần hai trăm năm (khoảng năm 1812) tại ấp Kỳ Sơn,
huyện Tam B́nh, nơi đây lúc đầu là một khu rừng
hoang vu, đầm lầy có nhiều sen mọc. Ban đầu, chùa
chỉ bằng tre lá đơn sơ, sau đó chùa bị hỏa hoạn. Đến
năm 1884 các nhà sư và bà con trong vùng đă quyên
góp xây dựng lại bằng gỗ. Chùa có kiến trúc theo
kiểu chùa Khmer, các mái chùa làm theo lối so le, ở
giữa ba mái xuôi một mái ngang là h́nh tháp cao 2 m,
chóp tháp 5 tầng, xung quanh tượng nữ thần Kâyno đỡ
tháp. Có nhiều đầu thần xà h́nh rẻ quạt che Đức Phật
ngồi thiền.
Gian chính điện có 2 tầng, tầng trệt thờ tượng Phật
Thích Ca (cao 11 m (33 ft)) và 11 tượng Thích Ca lớn
nhỏ ở các tư thế thiền định khác nhau. Tầng hai có
tượng Thích Ca cao 3 m (9 ft) có từ thế kỷ 19, ba
tượng Phật cứu độ chúng sinh. Tất cả các cột ngoài
đều tạc tượng chim thần Mahaknốt và tượng thần cánh
dơi Kâyno đỡ mái. Hàng năm, có nhiều lễ hội truyền
thống tín ngưỡng của đồng bào Khmer được tổ chức tại
đây.
Tịnh Xá Ngọc Viên:
Tịnh xá tọa lạc ở số 14/20/2
đường Xóm Chài, phường 2, thị xă Vĩnh Long. Tịnh xá
được xây vào năm 1948, là một trong những dấu tích
đầu tiên khai mở giáo pháp của Tổ sư Minh Đăng Quang.
Đây là ngôi tổ đ́nh của hệ phái Phật giáo Khất Sĩ
Việt Nam. Hệ phái này hiện có 250 ngôi tịnh xá từ
Quảng Trị đến Cà Mau. Trong chùa có điện Phật, bàn
thờ Tổ sư và nhà thờ Tổ Minh Đăng Quang.
Chùa Pháp Hải:
Chùa do sư Pháp Hải xây dựng
vào năm 1962 tại số 195 đường Trần Phú, phường 4,
thị xă Vĩnh Long. Năm 1980 chùa được trùng tu. Trước
đây chùa là trụ sở của hội Phật Học Nam Việt, tỉnh
Vĩnh Long. Trước chùa có dựng tượng Quan Thế Âm Bồ
Tát.
Chùa Giác Thiên:
Chùa được xây dựng vào năm
1906 tại số 70 đường Trần Phú, thị xă Vĩnh Long. Từ
đó đến nay, chùa đă được sửa chữa nhiều lần.
Văn Thánh Miếu:
Do ông Phan Thanh Giản tạo
lập cuối năm Giáp Tư (1865) và hoàn thành cuối năm
Bính Dần (1867). Miếu cách quận Châu Thành khoảng
hai cây số. Các đền thờ trong miếu gồm có: chánh
điện thờ Khổng Tử. Hai bên chánh điện thờ 72 bậc
thần hiền. Phía trước bên trái Văn Thánh Miếu có ṭa
Văn Xương Các, ở trên các thờ Đức Văn Xương Đế Quân,
ở dưới thờ ông Phan Thanh Giản. Lúc c̣n sống, ông
thường dùng nơi nầy làm nơi xướng họa với các văn
nhân thi sĩ. Những người cổ động trong việc xây dựng
miếu điều được ghi tên trên một "Thạch Bảng"; trong
số này có anh hùng Nguyễn Thông, nhà cách mạng sát
cánh chống Pháp cùng Trương Công Định.
Đ́nh Thờ Tống Phước Hiệp:
Ông Tống Phước Hiệp và em là
Tống Phước Ḥa là hai danh thần triều Nguyễn, được
sắc phong "Thần" ở hai tỉnh Vĩnh Long và Sa Đéc (quận
Châu Thành tức quận Sa Đéc, có đền thờ Tống Phước
Ḥa). Đ́nh Tống Phước Hiệp thuộc xă Long Châu, ngay
trung tâm tỉnh lỵ, được dân chúng trong tỉnh rất
kính trọng và sùng bái; nhất là
đồng
bào Việt gốc Hoa. Sau biến cố Mậu Thân (1968) đ́nh
được tỉnh cho tu sửa lại toàn bộ theo kiến thức tân
thời và
được
Hội Thành Tự Thánh Thần cải tên là "Đền Thờ Các Vị
Khai Quốc Công Thần" để tưởng nhớ các vị văn quan,
vơ tướng đă có công xây dựng miền đồng bằng sông Cửu
Long thành miền Tây trù phú. Bài vị của ông Phan
Thanh Giản được đưa về thờ tại đây. Hiện nay, ḍng
họ Tống Phước c̣n ở tỉnh Sa Đéc.
Lăng Thống Chế Điều Bát:
Cách quận Trà Ôn khoảng một
cây số về phía Đông, trên đường về xă Vĩnh Xuân, có
lăng ngài Điều Bát. Sau khi mất, ông được đưa về an
táng tại xă Thiện Mỹ, quận Trà Ôn. Dân chúng trong
vùng thường đến viếng lăng và xem ông rất linh
thiêng.
Bảo Tháp Xá Lợi Miền Tây:
Đây là một công tŕnh Phật
giáo thế giới, được xây dựng từ năm 1969 đến 1972
nhưng chưa hoàn tất. Bảo Tháp nằm trên bốn mẫu đất
nằm cạnh quốc lộ 4, gần bến phà Mỹ Thuận. Xá Lợi
Phật được an vị vào tháng Tư âm lịch năm Nhân Tư
(1972). Lúc bấy giờ, Bảo Tháp cao năm tầng, khoảng
20 thước (dự trù xây 10 tầng cao 49 thước).
Tầng thứ nhất được an vị bốn tượng Phật Thích Ca (mỗi
tượng cao hai thước mốt, trong tư thế ngồi thiền),
rất uy nghi, hiện nay chỉ c̣n có một tầng. Bốn tượng
Phật đă được Phật tử tại Vĩnh Long đưa về chùa Phước
Hải, Long Hồ. Bảo Tháp này được đại đức Narada thuộc
Phật giáo thế giới bảo trợ. Bảo Tháp Xá Lợi sau này
sẽ là một thắng cảnh độc đáo, không những của Vĩnh
Long mà c̣n cho cả miền Tây. Cầu Mỹ Thuận nối liền
quốc lộ 4; từ Sài G̣n đến Vĩnh Long không phải qua
phà.
Quận Vũng Liêm, Làng
Trung Thành: Quê
Trương Duy Toàn, nhà cách mạng và danh sĩ đời Nguyễn.
Năm 1913, ông là hội viện của Việt Nam Quang Phục
Hội do cụ Phan Bội Châu lănh đạo; cuối năm, ông cùng
Cường Để và Đỗ Văn Y qua Đức, sau đó cầm giác thư
qua Pháp tố cáo chính sách cai trị tàn ác của Pháp.
Biết trước Albert Sarraut giả muốn gặp để bắt giữ.
Cường âm thầm xuống tàu trốn về Trung Hoa; riêng
Trương Duy Toàn và Đỗ Văn Y bị bắt giam ở ngục La
Santé tại Paris, cùng với Phan Chu Trinh. Hai năm
sau, cả ba người được thả, Trương tiên sinh bị trục
xuất về nước và bị giam lỏng tại Long Điền, Cần Thơ.
Ông c̣n là những tiểu thuyết gia viết chữ Quốc ngữ
đầu tiên của nước ta và là một soạn giả cải lương
tiên phong rất được ưa chuộng; những tác phẩm được
biết đến như Phan Yên Ngoại Sử, Tiết Phụ Gian Truân;
Trang Tử Cổ Bồn Ca (tức Trang Châu Mộng Hồ Điệp, dựa
theo Nam Hoa Kinh của Trang Tử)..., và nhiều bài
soạn cho cải lương như Lưu Yến Ngọc cứu cha (lấy ư
từ Tái Sanh Duyên), Kim Vân Kiều Hạnh Ngộ, Lục Vân
Tiên, Kim Vân Kiều 1, Hạnh Nguyên Cống Hồ (lấy ư từ
Nhị Độ Mai).
LỄ HỘI
Là
một tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, Vĩnh Long được
khai phá từ năm 1732, khi bắt đầu dựng dinh Long Hồ.
Đến năm 1813 được đổi là Vĩnh Trấn. Năm 1832, tỉnh
Vĩnh Long được thành lập. Vĩnh Long có 3 dân tộc
chính: người Việt (Kinh) chiếm 97%, người Khmer
chiếm gần 2% dân số, c̣n lại là người Hoa và một số
ít người thuộc các dân tộc khác. Người Khmer trong
tỉnh ít, nhưng nơi đây vẫn mang đậm nét truyền thống
văn hóa lễ hội của người Khmer.
Vĩnh Long là vùng đất của
những ḍng sông, một thế giới nước, dấu ấn của những
câu chuyện truyền thuyết về thần rắn Naga của vương
quốc Phù Nam vào thế kỷ thứ nhất.
Chính những ḍng sông, những khu vườn trái cây bốn
mùa, không khí trong lành mát mẻ hàng năm đă thu hút
số đông du khách về với miệt vườn, với thiên nhiên
bao la, lắng nghe ŕ rào tiếng lá, lảnh lót, ríu rít
tiếng chim, cùng với hương nồng của trời đất để ḥa
nhập với thiên nhiên tươi đẹp và thưởng thức các
loại h́nh văn hóa truyền thống, đặc biệt là các lễ
hội của người Khmer.
Cũng giống như đồng bào ở
các tỉnh khác, hàng năm người Khmer ở Vĩnh Long có
nhiều lễ hội: như lễ vào năm mới (Chol Chnam Thmay)
tức là tết của người Khmer (15/4 Âm lịch); lễ cúng
ông bà(lễ Đôn Ta), từ 29/8 đến ngày 1/9 Âm lịch; lễ
cúng trăng (lễ hội OK-Om-Bok và
đua
ghe ngọ) vào ngày 15/10 Âm lịch; lễ dâng bông, lễ
dâng phước...