Quê Hương Vit Nam Mến Yêu

                       

 

 

Vĩnh Long

ĐỊA LƯ

Diện tích: 1.475 km2.
Dân số (2004): 1.049.736 người.
Tỉnh lỵ: Thị xă Vĩnh Long.
Các huyện: Long Hồ, Măng Thít, B́nh Minh, Tam B́nh, Trà Ôn, Vũng Liêm.
Dân tộc: Việt (Kinh), Khmer, Hoa.

Nằm trên đồng bằng châu thổ Cửu Long tỉnh Vĩnh Long không có núi, địa thế là đồng bằng do phù sa bù đắp. Hai con sông quan trọng là Tiền Giang và Hậu Giang.

Sông Tiền Giang đến An Thành chia làm hai nhánh, một nhánh chảy vào Vĩnh Long gọi là Cổ Chiên (ở đây có một số cù lao lớn như cù lao Dài, cù lao Tân Phong, cù lao An Thành), một nhánh chảy về phía Đông Nam vào hai tỉnh Định Tường và Kiền Ḥa.

Sông Hậu Giang chảy hướng Tây Nam, chia ranh giới với tỉnh Phong Dinh (có cù lao Tân Ngăi, tức cù lao Mây, khá lớn). Ngoài ra c̣n có kinh rạch ngang dọc khắp tỉnh: đặc biệt có kinh đào Mang Thít chảy dài từ quận Minh Đức đến quận Trà Ôn, nối liền hai sông Tiền Giang và Hậu Giang, rút ngắn đường vận chuyển các loại nông sản từ các tỉnh miền Tây về Sài G̣n.
 

Khí hâu ở đây nóng ẩm, với hai mùa mưa, nắng rất rơ rệt. Mực nước lên cao từ tháng Năm đến tháng Bảy âm lịch (ca dao có câu "tháng Bảy nước chảy khỏi bờ" là vậy), và bắt đầu xuống từ tháng Tám cho đến tháng Mười âm lịch mới b́nh lại. V́ kinh rạch nhiều, nhất là nhờ hai con sông Tiền, sông Hậu nên rút ra biển rất nhanh, không bị lụt như ở Mỹ Tho và Kiến Phong.

Là tỉnh ở giữa đồng bằng sông Cửu Long, Vĩnh Long có đất đai màu mỡ do được sông Tiền và sông Hậu bồi đắp phù sa hàng năm. Trồng trọt là một thế mạnh của tỉnh. Bên cạnh cây lúa (90% diện tích đất trồng lúa), hàng năm người dân Vĩnh Long c̣n thu hoạch hàng trăm ngàn tấn trái cây như cam, nhăn, quít, bưởi, dừa... và chăn nuôi gia súc gia cầm.

THẮNG CẢNH

Cù Lao An B́nh Và B́nh Ḥa Phước: Là cù lao giữa trên sông Tiền, đối diện với thị xă Vĩnh Long, nơi tập trung nhiều điểm du lịch. Cù lao rộng hơn 60 km2 (27 sq miles), gồm 4 xă: An B́nh, B́nh Ḥa Phước, Ḥa Ninh và Đồng Phú. đất đai màu mỡ và trù phú, nước ngọt quanh năm, dân cư trồng nhiều cây ăn trái như: chôm chôm, xoài, nhăn, sầu riêng, sapôchê... Các điểm du lịch trên cù lao này là:

Vườn cảnh bonsai của ông Sáu Giáo tại ấp B́nh Thuận xă Ḥa Ninh với hàng trăm các loại cây cảnh: mai vàng, mai chiếu thủy, lài... xung quanh nhà là vườn nhăn và ao nuôi cá tai tượng, loại cá thịt ngon. Nhà sàn ông Mười đầy: nhà sàn cất bằng gỗ trên rạch Ninh Ḥa, phía sau nhà là vườn nhăn, bưởi, sa-pô-chê. Ngôi nhà xưa ông Hai Hoàng được xây theo kiến trúc Pháp có sân rộng và phía sau là vườn chôm chôm và nhăn.

Các vườn trái cây đặc sản khác: vườn chôm chôm ông Chín Hoán, vườn chôm chôm ông Chín Cần, vườn nhăn tiêu ông Tám Hổ, và vô số các vườn trái cây khác. Vườn bưởi trên cù lao Mỹ Ḥa huyện B́nh Minh, cách Vĩnh Long chừng 30 km (19 miles), chuyên trồng bưởi năm roi, loại bưởi ngon nổi tiếng của vùng đồng bằng sông Cửu Long.

Khu du lịch Trường An: Trường An có diện tích rộng 16 ha nằm sát bên sông Tiền, cách thị xă Vĩnh Long 4 km (2.5 miles). Là khu du lịch của tỉnh Vĩnh Long, Tường An có phong cảnh thiên nhiên hữu t́nh, cây trái xanh mát quanh năm, không khí trong lành. Tại đây đă có những biệt thự với kiến trúc thanh lịch, nhà nghỉ, nhà hàng phục vụ các món ăn miền Tây Nam Bộ.

Trung tâm Fatima: Là một thắng cảnh, nhất là vào những ngày lễ đạo lớn trong năm được xây dựng cạnh quốc lộ 4, trên đường ra bến phà Mỹ Thuận. Trung tâm được trang trí bằng nhiều hoa kiểng đẹp, được dân chúng theo đạo Thiên Chúa ở Vĩnh Long xem là thánh địa của địa phận ḿnh.

Cù Lao Dài: Thuộc quận Vũng Liêm, dài 17 cây số. Đây là vùng đất do công khai phá của ông Nguyễn Văn Thoại, công thần nhà Nguyễn. Năm 1917 (Đinh Sửu), ông bắt đầu cho di dân đến vùng nầy và lập ra năm làng Phú Thái, Phước Khánh, Thái B́nh, Thanh Lương và B́nh Thạnh. Sau đó, nhà cửa, đ́nh chùa, cầu lộ được xây lên nhiều và dân sống trên cù lao này rất thịnh vượng. Ngày nay, cù lao Dài thuộc xă Quới Thiện và c̣n các di tích như lăng, mộ của nhiều người trong ḍng họ ông Nguyễn Văn Thoại và những quan chức thời bấy giờ, trong số này có lăng và mộ cụ bà Nguyễn Thị Tuyết, thân mẫu ông Nguyễn Văn Thoại.

KINH TẾ

Dân chúng sinh sống ở Vĩnh Long hầu hết là người Kinh, có một số đồng bào gốc Khmer ở tập trung trong năm xă thuộc các quận B́nh Minh (xă Đông Thành), quận Tam B́nh (xă Loan Mỹ), quận Trà Ôn (xă Trà Côn) và quận Vũng Liêm. Các tôn giáo chính gồm có đạo Phật, Cao Đài, Ḥa Hảo và Thiên Chúa.

Hầu hết dân chúng đều sống nghề nông, do chất đất được phù sa từ hai sông Tiền, sông Hậu bồi đắp hằng năm. V́ thế, lúa, các loại hoa màu, cũng như cây ăn trái rất tươi tốt, nhất là trên các cù lao. Nhiều loại lúa Vĩnh Long nổi tiếng thơm ngon, như lúa móng chim, ư đông, nếp hương bầu, nếp than. Nhiều loại hoa màu phụ là khoai lang đỏ, khoai sắp, khoai tía, các loại đậu... Cây công nghiệp như mía, thuốc lá, đậu phọng, dừa, đậu nành, bố, lát... được trồng khắp nơi trong tỉnh. Quận Tam B́nh và Trà Ôn chuyên về trồng mía. Ven sông Tiền và Hậu, dân chúng trồng dừa, thuốc lá.

Các loại cây ăn trái nổi tiếng như dưa hấu, dưa hùm, dưa vàng, xoài, mít, dừa, cam, ổi xá lị, chuối, cau, măng cầu, lựu... Các quận Châu Thành, B́nh Minh, Chợ Lách và Tam B́nh có diện tích trồng xoài nhiều nhất tỉnh, được phân phối đến các tỉnh khác với số lượng khá cao. Ở quận Châu Thành có trồng các loại hoa lài, hoa ngâu dùng cho kỹ nghệ ướp trà. Quận Chợ Lách có các vườn hoa nổi tiếng về các giống hồng, trúc đào, mẫu đơn, lan hồ điệp, mộc cẩn và các loại cây kiểng khác...

Thổ sản của Vĩnh Long rất phong phú và đa dạng. Cù lao Tân Phong ở quận Chợ Lách được biết nhiều v́ xuất cảng chuối già hương, thơm ngọt nhất miền Tây; v́ có những vườn quít đường, vườn chôm chôm tróc và đặc biệt là trái vải tươi, sầu riêng, được trồng ở vùng giáp ranh với Cáùi Mơn thuộc tỉnh Kiến Ḥa; đây là loại trái vải đầu tiên được gây giống thành công ở miền Tây.

Về công nghiệp, có các ḷ đường ở dọc theo kinh Mang Thít, cung cấp đường thô và đường hũ cho nhà máùy đường Hiệp Ḥa, cũng như các loại đường vàng và đường thẻ cho dân chúng trong vùng. Có kỹ nghêä làm gạch ngói ở các quận Châu Thành, Minh Đức và làm nhang ở quận B́nh Minh. Dù là một tỉnh có diện tích nhỏ, nhưng tiềm năng kinh tế của Vĩnh Long rất lớn, đặt biệt là thương nghiệp.

LỊCH SỬ

Thời các Chúa Nguyễn khai khẩn miền Nam, vùng Vĩnh Long và An Giang nằm trong địa hạt dinh Long Hồ, sau đổi thành dinh Vĩnh Trấn. Năm 1802, Gia Long chia lại Nam Kỳ làm năm trấn, Vĩnh Long và An Giang họp thành trấn Vĩnh Thanh. Năm 1832, Minh Mạng đổi các trấn thành tỉnh; Nam kỳ gọi là Gia Định thành gồm sáu tỉnh Vĩnh Long, Biên Ḥa, Gia Định, Định Tường, An Giang và Hà Tiên.

Sau khi chiếm ba tỉnh miền Đông, giặc Pháp tràn xuống miền Tây. Vĩnh Long là địa đầu mà chúng phải vượt qua. Ngày 20 -3 - 1862, tên đề đốc Bonard đưa 11 pháo trạm và 1.000 quân đến nơi. Tổng đốc Vĩnh Long Trương Văn Uyển điều binh chống giữ. Ngày 21 - 3 pháo hạm giặc bắt đầu bắn phá như mưa vào các tiền đồn trước khi đổ bộ. Quân ta chiến đấu rất dũng cảm. Nhưng hỏa lực địch quá mạnh, ngày 22 - 3, hai tiền đồn Vĩnh Tồn và Vĩnh Mỹ Thạnh thất thủ. Sáng ngày 23 - 3 thành lũy của Vĩnh Long bên bờ sông Cổ Chiên bị chọc thủng. Tổng đốc Trương Văn Uyển cho quân lui về Mỹ Quư (cách tỉnh lỵ Mỹ Tho 20 cây số về hướng Tây) thiết lập căn cứ mới tiếp tục chiến đấu.

Qua ḥa ước Nhâm Tuất kư ngày 11 - 6 - 1862 giữa triều đ́nh Tự Đức và Pháp, ngoài việc mất ba tỉnh Định Tường, Biên Ḥa, Gia Định, quân Pháp vẫn đóng binh trong tỉnh Vĩnh Long, mặt dù đất vẫn thuộc quan triều đ́nh cai quản. Tháng 7 - 1864 việc thương thảo giữa triều đ́nh với Pháp để chuộc lại ba tỉnh miền Đông thất bại, Pháp tiếp tục xâm lược ba tỉnh miền Tây. Ngày 20 - 6 - 1867, tên Phó đề đốc De la Grandière kéo quân thủy bộ đến chiếm thành Vĩnh Long. Không giữ được thành Phan Thanh Giản uống thuốc độc tự tử.

Cuối năm, ba người con của ông là Phan Liêm, Phan Tôn và Phan Ngữ phất cờ khởi nghĩa, đánh giặc Pháp lan rộng bốn tỉnh Vĩnh Long, Sa Đéc, Vĩnh B́nh, Bến Tre. Năm 1872, các anh hùng Âu Dương Lân, Lê Công Thành, Phạm Văn Đổng chiêu mộ người có ḷng kháng chiến suốt vùng Vĩnh Long, Cần Thơ và An Giang. Năm 1872 nghĩa quân vùng Vũng Liêm trá hàng, phục kích tại cầu Vồng, giết tên Tham Biện Salicetti và đại úy Bobin. Pháp sai Việt gian Tổng đốc Trần Bá Lộc đem quân xuống đán áp trả thù. Tên Lộc tàn sát gần trọn cả làng, chôn chung một hố gọi là Vũng Linh, sau nầy đọc trại là Vũng Liêm.

DI TÍCH

Chùa Phước Hậu: Chùa được xây dựng vào nửa cuối thế kỷ 18 trên một khu đất rộng răi và yên tĩnh, tại ấp Đông Phú, xă Ngăi Tứ, huyện Tam B́nh. Thiền Sư Hoàng Chỉnh ở Quảng Ngăi vào tu đă trùng tu chùa vào các năm 1895 và 1910. Chùa Phước Hậu tiếp tục được trùng tu và mở rộng dưới thời Ḥa thượng Khánh Anh từ năm 1939 và Ḥa thượng Thiện Hoa từ năm 1961 đến 1972. Ngoài các pho tượng Phật và tượng Thập Bát La Hán, chùa c̣n có khu tháp đẹp, đó là tháp Thiên Nga (dựng năm 1972) và tháp Đa Bảo (dựng năm 1966).

Chùa Tiên Châu (chùa Tô Châu): Toạ lạc tại xă An B́nh thuộc cù lao An B́nh, đối diện với thị xă Vĩnh Long, bên kia bờ sông Cổ Chiên. Chùa Tiên Châu do Ḥa thượng Đức Hội lập vào khoảng thế kỷ 19 trong một khu đất rộng, thoáng mát. Chùa c̣n có tên là chùa Di đà. Kiến trúc mặt tiền và cổng chùa hiện nay được xây dựng từ năm 1961 - 1963.

Chùa Saghmangala (chùa Hạnh Phúc Tăng hay chùa Vũng Liêm): Chùa tại xă Trung Thành, huyện Vũng Liêm. đây là chùa Khmer Nam Bộ được xây dựng từ lâu. Một số tài liệu cho biết chùa dựng vào năm 1339. Ngôi chính điện hiện nay được xây vào năm 1964, tam quan xây năm 1974, đặc biệt trên hai cột của cổng tam quan có đắp nổi hai tượng Krud đỡ mái tam quan rất độc đáo.

Chùa Kỳ Sơn: Chùa được xây dựng cách đây gần hai trăm năm (khoảng năm 1812) tại ấp Kỳ Sơn, huyện Tam B́nh, nơi đây lúc đầu là một khu rừng hoang vu, đầm lầy có nhiều sen mọc. Ban đầu, chùa chỉ bằng tre lá đơn sơ, sau đó chùa bị hỏa hoạn. Đến năm 1884 các nhà sư và bà con trong vùng đă quyên góp xây dựng lại bằng gỗ. Chùa có kiến trúc theo kiểu chùa Khmer, các mái chùa làm theo lối so le, ở giữa ba mái xuôi một mái ngang là h́nh tháp cao 2 m, chóp tháp 5 tầng, xung quanh tượng nữ thần Kâyno đỡ tháp. Có nhiều đầu thần xà h́nh rẻ quạt che Đức Phật ngồi thiền.

Gian chính điện có 2 tầng, tầng trệt thờ tượng Phật Thích Ca (cao 11 m (33 ft)) và 11 tượng Thích Ca lớn nhỏ ở các tư thế thiền định khác nhau. Tầng hai có tượng Thích Ca cao 3 m (9 ft) có từ thế kỷ 19, ba tượng Phật cứu độ chúng sinh. Tất cả các cột ngoài đều tạc tượng chim thần Mahaknốt và tượng thần cánh dơi Kâyno đỡ mái. Hàng năm, có nhiều lễ hội truyền thống tín ngưỡng của đồng bào Khmer được tổ chức tại đây.

Tịnh Xá Ngọc Viên: Tịnh xá tọa lạc ở số 14/20/2 đường Xóm Chài, phường 2, thị xă Vĩnh Long. Tịnh xá được xây vào năm 1948, là một trong những dấu tích đầu tiên khai mở giáo pháp của Tổ sư Minh Đăng Quang. Đây là ngôi tổ đ́nh của hệ phái Phật giáo Khất Sĩ Việt Nam. Hệ phái này hiện có 250 ngôi tịnh xá từ Quảng Trị đến Cà Mau. Trong chùa có điện Phật, bàn thờ Tổ sư và nhà thờ Tổ Minh Đăng Quang.

Chùa Pháp Hải: Chùa do sư Pháp Hải xây dựng vào năm 1962 tại số 195 đường Trần Phú, phường 4, thị xă Vĩnh Long. Năm 1980 chùa được trùng tu. Trước đây chùa là trụ sở của hội Phật Học Nam Việt, tỉnh Vĩnh Long. Trước chùa có dựng tượng Quan Thế Âm Bồ Tát.

Chùa Giác Thiên: Chùa được xây dựng vào năm 1906 tại số 70 đường Trần Phú, thị xă Vĩnh Long. Từ đó đến nay, chùa đă được sửa chữa nhiều lần.

Văn Thánh Miếu: Do ông Phan Thanh Giản tạo lập cuối năm Giáp Tư (1865) và hoàn thành cuối năm Bính Dần (1867). Miếu cách quận Châu Thành khoảng hai cây số. Các đền thờ trong miếu gồm có: chánh điện thờ Khổng Tử. Hai bên chánh điện thờ 72 bậc thần hiền. Phía trước bên trái Văn Thánh Miếu có ṭa Văn Xương Các, ở trên các thờ Đức Văn Xương Đế Quân, ở dưới thờ ông Phan Thanh Giản. Lúc c̣n sống, ông thường dùng nơi nầy làm nơi xướng họa với các văn nhân thi sĩ. Những người cổ động trong việc xây dựng miếu điều được ghi tên trên một "Thạch Bảng"; trong số này có anh hùng Nguyễn Thông, nhà cách mạng sát cánh chống Pháp cùng Trương Công Định.

Đ́nh Thờ Tống Phước Hiệp: Ông Tống Phước Hiệp và em là Tống Phước Ḥa là hai danh thần triều Nguyễn, được sắc phong "Thần" ở hai tỉnh Vĩnh Long và Sa Đéc (quận Châu Thành tức quận Sa Đéc, có đền thờ Tống Phước Ḥa). Đ́nh Tống Phước Hiệp thuộc xă Long Châu, ngay trung tâm tỉnh lỵ, được dân chúng trong tỉnh rất kính trọng và sùng bái; nhất là đồng bào Việt gốc Hoa. Sau biến cố Mậu Thân (1968) đ́nh được tỉnh cho tu sửa lại toàn bộ theo kiến thức tân thời và được Hội Thành Tự Thánh Thần cải tên là "Đền Thờ Các Vị Khai Quốc Công Thần" để tưởng nhớ các vị văn quan, vơ tướng đă có công xây dựng miền đồng bằng sông Cửu Long thành miền Tây trù phú. Bài vị của ông Phan Thanh Giản được đưa về thờ tại đây. Hiện nay, ḍng họ Tống Phước c̣n ở tỉnh Sa Đéc.

Lăng Thống Chế Điều Bát: Cách quận Trà Ôn khoảng một cây số về phía Đông, trên đường về xă Vĩnh Xuân, có lăng ngài Điều Bát. Sau khi mất, ông được đưa về an táng tại xă Thiện Mỹ, quận Trà Ôn. Dân chúng trong vùng thường đến viếng lăng và xem ông rất linh thiêng.

Bảo Tháp Xá Lợi Miền Tây: Đây là một công tŕnh Phật giáo thế giới, được xây dựng từ năm 1969 đến 1972 nhưng chưa hoàn tất. Bảo Tháp nằm trên bốn mẫu đất nằm cạnh quốc lộ 4, gần bến phà Mỹ Thuận. Xá Lợi Phật được an vị vào tháng Tư âm lịch năm Nhân Tư (1972). Lúc bấy giờ, Bảo Tháp cao năm tầng, khoảng 20 thước (dự trù xây 10 tầng cao 49 thước).

Tầng thứ nhất được an vị bốn tượng Phật Thích Ca (mỗi tượng cao hai thước mốt, trong tư thế ngồi thiền), rất uy nghi, hiện nay chỉ c̣n có một tầng. Bốn tượng Phật đă được Phật tử tại Vĩnh Long đưa về chùa Phước Hải, Long Hồ. Bảo Tháp này được đại đức Narada thuộc Phật giáo thế giới bảo trợ. Bảo Tháp Xá Lợi sau này sẽ là một thắng cảnh độc đáo, không những của Vĩnh Long mà c̣n cho cả miền Tây. Cầu Mỹ Thuận nối liền quốc lộ 4; từ Sài G̣n đến Vĩnh Long không phải qua phà.

Quận Vũng Liêm, Làng Trung Thành: Quê Trương Duy Toàn, nhà cách mạng và danh sĩ đời Nguyễn. Năm 1913, ông là hội viện của Việt Nam Quang Phục Hội do cụ Phan Bội Châu lănh đạo; cuối năm, ông cùng Cường Để và Đỗ Văn Y qua Đức, sau đó cầm giác thư qua Pháp tố cáo chính sách cai trị tàn ác của Pháp. Biết trước Albert Sarraut giả muốn gặp để bắt giữ. Cường âm thầm xuống tàu trốn về Trung Hoa; riêng Trương Duy Toàn và Đỗ Văn Y bị bắt giam ở ngục La Santé tại Paris, cùng với Phan Chu Trinh. Hai năm sau, cả ba người được thả, Trương tiên sinh bị trục xuất về nước và bị giam lỏng tại Long Điền, Cần Thơ.

Ông c̣n là những tiểu thuyết gia viết chữ Quốc ngữ đầu tiên của nước ta và là một soạn giả cải lương tiên phong rất được ưa chuộng; những tác phẩm được biết đến như Phan Yên Ngoại Sử, Tiết Phụ Gian Truân; Trang Tử Cổ Bồn Ca (tức Trang Châu Mộng Hồ Điệp, dựa theo Nam Hoa Kinh của Trang Tử)..., và nhiều bài soạn cho cải lương như Lưu Yến Ngọc cứu cha (lấy ư từ Tái Sanh Duyên), Kim Vân Kiều Hạnh Ngộ, Lục Vân Tiên, Kim Vân Kiều 1, Hạnh Nguyên Cống Hồ (lấy ư từ Nhị Độ Mai).
 

LỄ HỘI

Là một tỉnh đồng bằng sông Cửu Long, Vĩnh Long được khai phá từ năm 1732, khi bắt đầu dựng dinh Long Hồ. Đến năm 1813 được đổi là Vĩnh Trấn. Năm 1832, tỉnh Vĩnh Long được thành lập. Vĩnh Long có 3 dân tộc chính: người Việt (Kinh) chiếm 97%, người Khmer chiếm gần 2% dân số, c̣n lại là người Hoa và một số ít người thuộc các dân tộc khác. Người Khmer trong tỉnh ít, nhưng nơi đây vẫn mang đậm nét truyền thống văn hóa lễ hội của người Khmer.

Vĩnh Long là vùng đất của những ḍng sông, một thế giới nước, dấu ấn của những câu chuyện truyền thuyết về thần rắn Naga của vương quốc Phù Nam vào thế kỷ thứ nhất.
Chính những ḍng sông, những khu vườn trái cây bốn mùa, không khí trong lành mát mẻ hàng năm đă thu hút số đông du khách về với miệt vườn, với thiên nhiên bao la, lắng nghe ŕ rào tiếng lá, lảnh lót, ríu rít tiếng chim, cùng với hương nồng của trời đất để ḥa nhập với thiên nhiên tươi đẹp và thưởng thức các loại h́nh văn hóa truyền thống, đặc biệt là các lễ hội của người Khmer.

Cũng giống như đồng bào ở các tỉnh khác, hàng năm người Khmer ở Vĩnh Long có nhiều lễ hội: như lễ vào năm mới (Chol Chnam Thmay) tức là tết của người Khmer (15/4 Âm lịch); lễ cúng ông bà(lễ Đôn Ta), từ 29/8 đến ngày 1/9 Âm lịch; lễ cúng trăng (lễ hội OK-Om-Bok và đua ghe ngọ) vào ngày 15/10 Âm lịch; lễ dâng bông, lễ dâng phước...

Trở Lại

     -o0o-

 

Xin gởi bài mới và ư kiến đóng góp về Tạng Thư Phật Học qua địa chỉ email: tangthuphathoc@gmail.com