Quê Hương Vit Nam Mến Yêu

                       

 

 

Bến Tre

ĐỊA LƯ

Diện tích: 2.315 km2.
Dân số (2004): 1.398.874 người.
Tỉnh lỵ: thị xă Bến Tre.
Các huyện: Châu Thành, Chợ Lách, Mơ Cày, Giồng Trôm, B́nh Đại, Ba Tri và Thạnh Phú.
Dân tộc: Việt (Kinh).

Bến Tre là một tỉnh đồng bằng cuối nguồn sông Cửu Long, tiếp giáp với biển Đông, có bờ biển dài 60 km (38 miles). Phía bắc giáp Tiền Giang, phía tây và tây nam giáp Vĩnh Long, phía nam giáp Trà Vinh. Thị xă Bến Tre cách thành phố Sài G̣n 85 km (53 miles).

Bến Tre tên trước đây là Kiến Ḥa. Bốn nhánh sông Tiền Giang là sông Mỹ Tho, sông Ba Lai, sông Hàm Luông và sông Cổ Chiên chia đất Bến Tre ra làm cù lao Minh, cù lao Bảo, cù laoAn Hóa. Hai sông Hàm Luông và Bà Lai chảy suốt tỉnh rồi ra hai cửa biển cùng tên. Sông Mỹ Tho chia ranh giới phía bắc với tỉnh Tiền Giang rồi đổ ra cửa Đại. Sông Cổ Chiên làm ranh giới với tỉnh Trà Vinh rồi chảy ra hai cửa Cổ Chiên và Cung Hầu.

Các sông rạch khác là sông Bến Tre, rạch Bàng Cùng, kinh Thêm, kinh Tân Hương, kinh Tiền Thủy, rạch Cầu Mây, rạch Vũng Luông... Bờ biển Bến Tre dài khoảng 60 cây số, rất thuận lợi cho việc đánh cá. Ngoài khơi có các đảo nhỏ như Cồn Lợi, Cồn Hồ... Bến Tre có bốn cửa biển của sông Cữu Long là cửa Đại, Ba Lai, Hàm Luông và Cổ Chiên.

Địa h́nh ở đây bằng phẳng, rải rác có những cồn cát xen kẻ với ruộng vườn, không có rừng cây lớn, bốn bề sông nước bao bọc rất thuận tiện cho giao thông vận tải cũng như thủy lợi. Bến Tre có khí hậu nhiệt đới gió mùa: mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, các tháng c̣n lại là mùa khô.

Nhiệt độ trung b́nh hàng năm từ 26
° C đến 27 ° C. Lượng mưa trung b́nh hàng năm từ 1.250mm - 1.500 mm (49 in - 59 in). Là tỉnh có nhiều sông rạch, Bến Tre có điều kiện thuận tiện để phát triển du lịch xanh, bởi ở đó c̣n giữ được nét nguyên sơ của miệt vườn, giữ được môi trường sinh thái trong lành trong màu xanh của những vườn dừa, vườn cây trái rộng lớn.

Bến Tre là vựa lớn của đồng bằng sông Cửu Long với nhiều sản vật và hoa quả: lúa, ngô, khoai, dứa, chôm chôm, măng cầu, vú sữa, sầu riêng. Bến Tre giàu thủy sản với các loại: cá thiều, cá mối, cá cơm. Cây công nghiệp có dừa, thuốc lá, mía, bông. Đặc biệt Bến Tre là xứ sở của dừa (gần 40.000 ha trồng dừa), nổi tiếng với đặc sản kẹo dừa Bến Tre, bánh tráng Mỹ Lồng, bánh phồng Sơn Đốc. Làng nghề Cái Mơn hàng năm cung ứng cho thị trường hàng triệu giống cây ăn quả và cây cảnh nổi tiếng khắp nơi. 

THẮNG CẢNH

Cồn Phụng (Cồn Đạo Dừa): Thuộc xă Tân Thạch, huyện Châu Thành, ở ngay cửa ngơ của tỉnh, cách trung tâm thị xă 12 km (7.5 miles, đường bộ) và 25 km (16 miles, đường sông), cạnh tuyến phà Rạch Miếu của quốc lộ 60 từ Mỹ Tho đến Bến Tre. Khu du lịch Cồn Phụng nằm trên một cù lao nổi giữa sông Tiền có diện tích rộng 28 ha. Tới đây du khách sẽ thăm các công tŕnh kiến trúc độc đáo của nơi đă từng là thánh địa của đạo Dừa. Với một số di tích c̣n lại như: sân rồng, tháp... Trên Cồn Phụng c̣n có làng thủ công mỹ nghệ sản xuất những đồ gia dụng bằng vật liệu từ cây dừa và những gia đ́nh nuôi ong lấy mật từ hoa nhăn, sản phẩm được bán tại chỗ cho khách du lịch.

Cồn Ốc (Cồn Hưng Phong): Thuộc xă Hưng Phong, huyện Giồng Trôm, cồn dài 8,3 km (5 miles), rộng hơn 1 km (0.6 miles), cách Bến Tre khoảng hơn 10 km (6 miles). Trên cồn có nhiều vườn dừa và vườn cây ăn quả.

Cồn Tiên: Nằm ở trên sông Tiền, ngang với làng Cái Mơn, có diện tích 7 ha, thuộc xă Tiên Long, huyện Châu Thành, cách trung tâm thị xă 23 km (14 miles, đường bộ) hoặc 15 km (10 miles, đường sông). Cồn Tiên là một băi cát đẹp, hàng năm vào ngày 5 tháng 5 âm lịch hàng vạn người đến tắm và vui chơi giải trí.

Sân Chim Vàm Hồ: là một điểm du lịch sinh thái hấp dẫn thuộc địa phận hai xă Mỹ Ḥa và Tân Xuân, huyện Ba Tri ven sông Ba Lai. Từ thị xă Bến Tre đến sân chim Vàm Hồ khoảng 52 km (33 miles). Có thể đi theo đường bộ hoặc đường sông về phía sông Ba Lai để đến sân chim Vàm Hồ, nơi trú ngụ của gần 500.000 con c̣ và vạc cùng các loài chim khác như cồng cộc, le le. Vàm Hồ rộng hơn 40 ha, trong đó 15 ha rừng chà là nguyên sinh. Người dân Ba Tri trồng đước trên 7 ha cạnh rừng chà là, đồng thời dẩn nước từ sông Ba Lai vào, chia sân chim làm 5 khu và đắp đê pḥng hộ xung quanh sân đề pḥng nạn cháy rừng để bảo vệ chim.

Trên đường vào sân chim, dọc hai bên bờ sông Ba Lai là một thảm thực vật phong phú gồm các loại cây: ổi, so đủa, đậu ván, măng cầu xiêm, dừa nước. Vào trong sân chim các loại cây chiếm ưu thế là: đước đôi, bụp tra, chà là, ô rô, rau muống biển. Tuy sân chim có hai loài cây chính là chà là và đước, chim chỉ làm tổ trên cây chà là có gai, đước là nơi chúng nghĩ chân sau khi tắm ḿnh trong ḍng kênh.

Du khách đến sân chim vào lúc 4 giờ chiều hàng ngày sẽ được chứng kiến một cảnh giao ca thú vị, đó là lúc đàn c̣ hàng ngàn con đi ăn về đậu trắng các ngọn cây, đàn vạc cất tiếng kêu rủ nhau vỗ cánh bay đi kiếm ăn đêm. Ngoài c̣ trắng, vạc, sân chim c̣n có các loại c̣ ngà, c̣ ruồi, ṿng vọc, diệc xám, quắm trắng, và các loài thú hoang dại như dơi, chồn, rắn, trăn... Du khách sẽ thấy thú vị như đang sống trong thế giới của âm thanh của các loài chim với vô vàng âm sắc.

Vườn Cây Ăn Trái Cái Mơn (Chợ Lách): Nằm bên bờ sông Tiền thuộc xă Tiên Thủy, huyện Châu Thành, là quê hương của Trương Vĩnh Kư. Có thể nói đây là cái nôi của cây ăn trái vùng Nam Bộ. Đến đây mùa nào cũng có các loại trái cây để ăn. Làng nghề Cái Mơn hàng năm c̣n cung ứng cho thị trường hàng triệu cây giống các loại: sầu riêng, măng cụt, xoài cát, nhăn tiêu, ḅn bon và các cây có múi.

Cái Mơn cũng là nơi có nhiều nghệ nhân, nhân giống chiết cành tạo nên các loại cây cảnh và bonsai h́nh con hươu, nai, rồng, phượng... rất đẹp mắt. Sản phẩm được bày bán nhiều ở Thủ Đức, Biên Ḥa... và xuất sang các nước trong khu vực Đông Nam Á.

Bốn Con Sông Lớn Mỹ Tho, Ba Lai, Hàm Luông Và Cổ Chiên Của Mỹ Tho: là những nhánh sông cuối cùng của Tiền Giang chảy ra biển Đông Hải mênh mông. Xuôi ḍng sông Mỹ Tho, một nhánh của Tiền Giang, đồng bào ta nhớ lại trận thủy chiến Rạch Gầm - Xoài Mút lừng danh của anh hùng Nguyễn Huệ. Cũng giống như các sông rạch khác của miền Nam, sông nước hiền ḥa của Bến Tre đă và đang cùng với người dân Kiến Ḥa nhập ḍng đấu tranh cứu nước chống lại ách thống trị của quân Pháp.

Các Cửa Đại, Ba Lai, Hàm Luông, Cổ Chiên: là thắng cảnh thiên nhiên độc đáo, đứng nh́n ra biển cả, phong cảnh bao la, hùng vĩ vô cùng.

Băi Ngao: C̣n gọi là Ngao Châu, thuộc xă Tân Thủy, quận Ba Tri. Đây là băi cát lớn bao trùm cả Gành Bà Hiển và Gành Mù U. Cảnh trí nên thơ.
 

KINH TẾ

Đất Bến Tre do phù sa sông Cửu Long bồi đắp, đặc biệt là ở Hàm Long. Hoa màu chính là lúa, hoa màu phụ cũng chiếm phần quan trọng: khoai lang, ngô, sắn và các loại rau.

Loại cây kỹ nghệ mang lại nhiều lợi ích cho tỉnh như dừa, thuốc lá, mía, cà phê, dâu nuôi tằm, cói. Dừa ở đây rất nhiều trái và lượng dầu rất cao. Ngoài nước uống và dầu, dừa c̣n cho các phó sản khác là than dừa, vỏ dừa làm thảm dừa, dây dừa.

Mía được trồng nhiều tại các vùng đất phù sa ven sông rạch; nổi tiếng nhất là có các loại mía tại Mỏ Cày và Giồng Trôm. Diện tích trồng thuốc lá tập trung ở Mỏ Cày, nơi có loại thuốc thơm cũng nổi tiếng. Đất bồi thích hợp trồng cói.

Bến Tre có nhiều loại cây ăn trái như cam, quít, sầu riêng, chuối, chôm chôm, măng cụt, xoài cát, ḅn bon... trồng nhiều ở quận Giồng Trôm, Hàm Long và Châu Thành. Hai đặc sản khác của Kiến Ḥa là trầu và cau được phổ biến nhiều đến các tỉnh khác. Vùng Cái Mơn, huyện Đơn Nhơn, có nghề rang trầu và làm "cau tầm vung" (cau để chín khô trên cây, không xắt ra) rất nổi tiếng trong nước.

Rừng nước mặn chạy dọc theo bờ biển, mang lại cây dừa nước, chà là, bần...; lá dừa nước lợp nhà rất tốt. Những con sông lớn và vùng biển Đông có nhiều loại cá ngon như cá vược, cá dứa, cá bạc má; ngoài ra là nghêu, cua biển và tôm he. Dân chúng lấy rượu ở khu rừng mắm B́nh Đại, Thạnh Phú để làm nước mắm. Ruộng muối ở Thạnh Phú, B́nh Đại, Ba Tri cũng là nguồn lợi khả quan.

LỊCH SỬ

Đời vua Minh Mạng, Nam phần chia làm sáu tỉnh Vĩnh Long, Biên Ḥa, Gia Định, Định Tường, An Giang và Hà Tiên. Đất Bến Tre bây giờ là phủ Hoàng Trị gồm các huyện Tân Ninh, Bảo An, Bảo Hậu và trực thuộc tỉnh Vĩnh Long. Thời Pháp thuộc, chúng chia sáu tỉnh lớn thành 20 tỉnh (về sau đặt thêm tỉnh thứ 21 là Vũng Tàu). Một phần đất của Vĩnh Long được tách ra để lập tỉnh Bến Tre.

Năm 1862, anh hùng Phan Công Ṭng (người làng An B́nh Đông, quận Ba Tri) bỏ nghề dạy học, thay bút sách bằng tầm vông, dáo nhọn, chiêu tập người yêu nước vùng lên đánh Pháp. Ông tử trận năm 1867. Làng Bảo Thạnh, quận Ba Tri là quê anh hùng Phan Thanh Giản. Cuối năm 1867, quân Pháp đem binh chiếm ba tỉnh miền Tây là Hà Tiên, An Giang và Vĩnh Long. Giữ ba thành không nổi, không làm tṛn mệnh vua, ông dặn ḍ con cháu không được làm tay sai cho giặc, rồi uống thuốc độc tự vận.

Ba người con trai của ông Phan Liêm, Phan Tôn và Phan Ngữ chiêu mộ nghĩa quân khởi nghĩa vào cuối năm 1867, đánh Pháp khắp nơi ở Bến Tre, Sa Đéc, Vĩnh Long, Trà Vinh, được dân chúng hưởng ứng rất đông. Pháp sai Tôn Thọ Tường và tổng đốc Phương nhiều lần chiêu hàng không được. Trong một cuộc giao chiến ở Giồng Gạch vào năm 1870, hai anh hùng Phan Tôn và Phan Ngữ tử trận. C̣n anh hùng Phan Liêm trở ra miền Bắc và tiếp tục chiến đấu bên cạnh anh hùng Nguyễn Tri Phương.

Cũng trong cùng thời gian này, ông Nguyễn Đ́nh Chiểu đă rời Long An về sống tại Ba Tri, dù mù ḷa ông tiếp tục dùng văn thơ kháng Pháp. Giặc mang bổng lộc mời ông về cộng tác măi không được. Ông giữ phẩm cách thanh cao và tinh thần yêu nước cho đến khi qua đời tại làng An Đức, ngày 24 tháng 5 năm Mậu Tư (3/7/1888).

DI TÍCH

Chùa Hội Tôn: Chùa được Thiền Sư Long Thiền dựng vào thế kỷ 18 tại ấp 8, xă Quới Sơn, huyện Châu Thành. Ở điện Phật có tượng Thập Điện Minh Vương bằng đồng cao 0,70 m (2.1 ft) được đúc tại Huế thế kỷ 19. Chùa đă được trùng tu vào các năm: 1805, 1884, 1947 và 1992. Năm 1805, tôn tạo tượng Phật, pháp khí và đúc đại hồng chung (chuông lớn).

Chùa Tuyên Linh: Tọa lạc ở ấp Tân Quới Đông B, xă  Minh Đức, huyện Mơ Cày, chùa được dựng vào năm 1861 và có tên là chùa Tiên Linh. Năm 1907, ḥa thượng Khánh Ḥa về trụ tŕ đă cho tu sửa lớn và năm 1924 đổi tên là chùa Tuyên Linh. Đến năm 1941, ḥa thượng tổ chức trùng tu và mở rộng chùa. Năm 1983 chùa lại được trùng tu. Từ năm 1920, ḥa thượng chùa Tuyên Linh là một trong những vị chủ xướng "phong trào chấn hưng Phật giáo" lập ra trường Phật học để đào tạo tăng ni tại đây. Chùa có pho tượng hộ pháp cao 0,70 m (2.1 ft), ngoài vườn chùa có tháp tổ.

Chùa Viên Minh: Tọa lạc ở 156, đường Nguyễn Đ́nh Chiểu, thị xă Bến Tre. Chùa được dựng từ lâu. Kiến trúc chùa hiện nay được xây dựng từ năm 1951 đến 1959. Chùa hiện đặt văn pḥng ban trị sự Phật giáo tỉnh Bến Tre. Trước khuôn viên chùa có tượng Bồ Tát Quan Thế Âm

Mộ Nguyễn Đ́nh Chiểu: Thuộc xă An Đức, trị trấn huyện Ba Tri. Nguyễn Đ́nh Chiểu là nhà thơ yêu nước nổi tiếng của miền Nam và cả nước. Ông sinh ra tại Gia Định (nay thuộc Sài G̣n). Năm 1861, Cần Giuộc thất thủ ông về Ba Tri (Bến Tre) ở ẩn và mất tại đó. Hàng năm, vào ngày 1 tháng 7 (ngày sinh), nhân dân Ba Tri và Bến Tre thay mặt đồng bào cả nước tổ chức lễ dâng hoa tưởng niệm nhà thơ một cách trong thể.

Mộ Vơ Trường Toản: Thuộc xă Bảo Thạnh, huyện Ba Tri. Vơ Trường Toản là nhà nho lớn ở thế kỷ 18, có kiến thức uyên bác, chí khí thanh cao, có công đào tạo được nhiều danh sĩ cho các tỉnh Nam bộ.

Mộ Phan Thanh Giản: Ở gần mộ Vơ Trường Toản, được xây dựng bằng đá ong, trên mộ là tấm bia ghi chữ Hán.

Làng Bảo Thạnh, Quận Ba Tri: Là quê ông Phan Thanh Giản, làm quan triều Tự Đức, người đậu tiến sĩ đầu tiên trong Nam, và cũng là người yêu nước như đă nói ở trên. Các tác phẩm của ông gồm có: Du kinh, Toái Cầm, Kim Đàøi thi tập. Phần văn quốc âm có tập Lương Khê thi thảo. Ngoài ra, ông c̣n soạn chung bộ sách Khâm định thông giảm cương mục.

Quận Ba Tri: Quê bà Nguyễn Thi Xuân Khuê (c̣n gọi là Nguyễn Thị Khuê) một nhà văn nữ nổi tiếng ở Bến Tre với búùt hiệu Sương Ngọc Ánh. Bà sinh năm 1864, là con gái của cụ Nguyễn Đ́nh Chiểu. Bà giỏi văn thơ từ lúc bé; lập gia đ́nh năm 24 tuổi, được một gái th́ chồng qua đời. Bà ở vậy nuôi con cho đến ngày gă con đi lấy chồng. Sau con gái bà mất sớm, để lại một cháu gái và bà đă lănh đem nuôi và lên Sài G̣n làm chủ bút tờ "Nữ Giới Chung", tờ báo đầu tiên ở miền Nam. Bà mất tháng 11 năm Canh Thân (21/12/1920). Một trong những bài văn thơ nổi tiếng của bà là Chinh Phụ Thi.

Xă Cái Mơn, Quận Đơn Nhơn: Là quê Trương Vĩnh Kư, một học giả nổi tiếng trong hậu bán thế kỷ 19. Ông mồ côi cha từ thuở ấu niên, được mẹ hết ḷng nuôi dạy. Lúc năm tuổi, theo học chữ Nho, rồi học chữ Quốc ngữ. Với tư chất thông minh, ông biết rất nhiều ngoại ngữ Hán, Pháp, Xiêm, Lào, Miên, Hy Lạp, La Tinh, Anh, Nhật, Ấn Độ... Tháng 8/1869, ông trông coi bài vở cho tờ "Gia Định báo" tờ báo Việt Ngữ đầu tiên ở nước ta, với dụng ư truyền bá Quốc ngữ, trau dồi văn chương nước nhà.

Sự nghiệp văn chương của ông rất lớn, các tác phẩm của ông có thể chia làm hai loại, phần lớn là sách giáo khoa: loại sáng tác gồm có: chuyện đời xưa, bất cượng nhớ cượng làm chi, phép lịch sự, kiếp phong trần, chuyến đi Bắc kỳ năm Ất Hợi, sách dạy Quốc ngữ, sách dạy chữ Nho..., và rất nhiều sách viết bằng Pháp ngữ. Loại phiên dịch văn Nôm ra Quốc ngữ và dịch sách Hán ngữ gồm Kim Vân Kiều, Đại Nam Quốc Sử diễn ca, gia huấn ca của Trần Hy Tăng, lục súc tranh công, Phan Trần truyện, Lục Vân Tiên truyện, Đại học và Trung dung, tam tự kinh, Minh tâm bữu giám... Ông mất ngày 1/ 9/1898, thọ 61 tuổi.

Bến Tre: C̣n là quê của Trương Tấn Bửu, công thần đời Nguyễn. Tháng 3 năm Tân Tỵ (1821) năm Minh Mạng thứ hai, ông lănh chức phó tổng trấn Gia Định, thay thế Huỳnh Công Lư phạm quốc pháp bị xử trảm. Năm 1823, ông được cử đốc suất dân binh vét kinh Vĩnh Tế thay tổng trấn Lê Văn Duyệt bị bệnh. Tháng 8 cùng năm, Lê Văn Duyệt về kinh, ông kế quyền tổng trấn, nhưng chỉ ít lâu ông cáo bệnh về hưu.

Trở Lại

     -o0o-

 

Xin gởi bài mới và ư kiến đóng góp về Tạng Thư Phật Học qua địa chỉ email: tangthuphathoc@gmail.com