Quê Hương Vit Nam Mến Yêu

                       

 

 

Tây Ninh

ĐỊA LƯ

Diện tích: 4.028,12 km2.
Dân số (2004): 1.023.707 người.
Tỉnh lỵ: thị xă Tây Ninh.
Các huyện: Tân Biên, Tân Châu, Dương Minh Châu, Châu Thành, Ḥa Thành, Bến Cầu, G̣ Dầu, Trảng Bàng.
Dân tộc: Việt (Kinh), Chăm và Khmer.

Tây Ninh là tỉnh biên giới của miền đông Nam Bộ, phía bắc giáp 3 tỉnh của Campuchia với đường biên giới dài 240 km (150 miles), phía đông là tỉnh B́nh Dương và B́nh Phước, phía nam giáp thành phố Sài G̣n và Long An. Tỉnh có hai cửa khẩu quốc gia là Mộc Bài và Sa Mát.

Phía bắc tỉnh, từ thị xă Tây Ninh trở lên nhiều rừng núi, trong đó núi Bà Đen cao 986 m (2,958 ft). Phía nam, đất khá bằng phẳng, gần như đồng bằng, có hai con sông lớn chảy qua là sông Vàm Cỏ Đông và sông Sài G̣n. Sông Sài G̣n được chặn lại tạo nên hồ Dầu Tiếng công tŕnh thủy lợi lớn nhất nước, tưới tiêu cho 17.500 ha đất nông nghiệp.

Tây Ninh là nơi tiếp giáp vùng núi cao nguyên Nam Trung Bộ và đồng bằng sông Cửu Long thuộc miền đất cao của Nam Bộ. Phần lớn là đất đỏ và đất xám, rất tốt cho việc trồng trọt, nhất là trồng rừng và cây công nghiệp.

Tây Ninh có khí hậu nóng ấm, ôn ḥa quanh năm, nhiệt độ trung b́nh năm 26 ° C đến 27 ° C, lượng mưa trung b́nh cả năm từ 1.400 đến 2.000 mm (54 đến 78 in). Có hai mùa rơ rệt: mùa khô từ tháng 12 đến tháng 4, mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10.

Thị xă Tây Ninh cách thành phố Sài G̣n 99 km (64 miles). Quốc lộ 22A từ thành phố qua Trảng Bàng, G̣ Dầu tới cửa khẩu Mộc Bài. Quốc lộ 22B từ G̣ Dầu qua thị xă Tây Ninh đi cửa khẩu Sa Mát.

Tây Ninh giữ vị trí nối giữa Sài G̣n và thủ đô Phnôm Pêng (Campuchia), Tây Ninh là địa bàn chiến lược về kinh tế và quốc pḥng. Ngày xưa đây là đất Phù Nam. Sau đó thuộc phủ Gia Định (thời nhà Nguyễn). Năm 1936 đặc phủ Tây Ninh gồm có hai huyện Tân Ninh và Quang Hóa, sau đổi thành tỉnh Tây Ninh.

THẮNG CẢNH

Núi Bà Đen: Nằm cách thị xă Tây Ninh 11 km (7 miles) vềphía tây bắc, với độ cao 986 m (2,958 ft), nh́n xa núi Bà Đen như một chiếc nón úp trên đồng bằng. Trải qua nhiều thế kỷ, núi Bà Đen là nơi thờ cúng của nhân dân trong vùng, trên núi có chùa Vân Sơn trông xuống hồ nước. Đường lên đỉnh núi quanh co có nhiều cảnh trí do thiên nhiên tạo ra. Lên cao, về phía đông là ngọn núi Cậu, phía tây bắc là núi Heo và núi Phụng. Trong núi có rất nhiều hang động đẹp. Nhiệt độ ở đây thường thấp hơn nhiệt độ ở Tây Ninh và ở các nơi khác trong vùng.

Hồ Dầu Tiếng: Cách thị xă Tây Ninh 20 km (13 miles) là điểm du lịch nằm trong tuyến liên hoàn giữa thị xă Tây Ninh, Ṭa Thánh tây Ninh, núi Bà Đen. Hồ có diện tích 27.000 ha, có sức chứa 1,5 tỷ m3 nước tưới cho đồng ruộng tỉnh và các tỉnh lân cận. Hồ Dầu Tiếng với khoảng không gian rộng lớn, sơn thủy ḥa nguyện, ốc đảo tự nhiên lạ mắt, không khí trong lành, thoáng mát sẽ tạo cho du khách cảm giác thoải mái trong một chuyến du lịch. Đến nơi đây quí khách c̣n được thưởng thức các món ăn thủy sản của địa phương.

KINH TẾ

Người Kinh sống phần đông trong tỉnh, c̣n lại là đồng bào Khmer và Chàm. Đa số theo đạo Cao Đài, rồi đến đạo Phật, Ḥa Hảo. Đạo Cao Đài c̣n gọi là Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ, là một tôn giáo lớn, ra đời vào năm 1926. Triết lư của đạo Cao Đài là lấy "Tam giáo quy nguyên" (ba tôn giáo lớn của Á Đông là Khổng, Lăo, Phật trở về một nguồn gốc) và "Ngủ chi phục nhất" (Nhân đạo, Thần đạo, Thánh đạo, Tiên đạo và Phật đạo trở về một cột).

Đạo thờ đấng chí tôn là Huyền Khung Cao Thượng Đế Ngọc Hoàng Đại Thiên Tôn (tức Trời) lấy "Con Mắt" tiêu biểu sự sáng suốt của đấng chí tôn, Cao Đài chia làm nhiều phái được thành lập ở nhiều nơi. Hai phái lớn nhất ở Tây Ninh và Kiến Ḥa (Bến Tre).

Đất Tây Ninh bằng phẳng nên rất tiện lợi cho việc trồng trọt. Ngoài lúa là căn bản, dân chúng trồng nhiều loại rau và các cây: thuốc lá, mía, đậu phộng và các loại trái cây.

 Rừng núi Tây Ninh chiếm một phần ba diện tích và đem nhiều lợi tức về lâm sản cho tỉnh. Các loại gỗ quư như cẩm lai, trắc, sến, căm xe, mây, tre và một số cây làm thuốc. Mây có các loại mây nước, mây tàu, mây rắc, mây rút. Cây le (tre rừng nhỏ cây) dùng chế biến giấy. Lâm sản khác là mủ cây dầu trong dùng để trét ghe. Rừng cũng có nhiều thú như hổ, voi, hươu, nai, nhím... Tây Ninh cũng là nơi có nhiều đồn điền cao su. Khoáng sản của Tây Ninh không nhiều, chỉ có đá ở trên núi Bà Đen, đá nung vôi, cát vùng Tống Lê Chân là những vật liệu dùng làm việc làm đường xá...

LỊCH SỬ

Tây Ninh xưa thuộc đất Phù Nam, sau bị Chân Lạp thôn tính chia làm hai thành Thủy và Lục Chân Lạp. Tây Ninh nằm trong đất Thủy Chân Lạp, có những bộ lạc Chàm, Khmer sống rải rác. Đầu thế kỷ thứ 18, chúa Nguyễn sau khi chiến thắng Chiêm Thành lập các phiên trấn và đặt phủ Gia Định.

Năm 1802, phủ Gia Định cải làm trấn Gia Định. Đời Minh Mạng đặt sáu tỉnh Nam kỳ là Gia Định, Biên Ḥa, Định Tường, Vĩnh Long, An Giang và Hà Tiên. Lúc bấy giờ đất Tây Ninh thuộc tỉnh Gia Định c̣n có tên "nơi giữ voi" (Romdumray). Thời Pháp thuộc, tỉnh Gia Định trở thành một tỉnh trong 20 tỉnh Nam phần. Năm 1936, quân Pháp đặt tỉnh Tây Ninh và Quy Hóa, sau đó phủ được đổi thành tỉnh.

Khi anh hùng Trương Công Định hy sinh vào năm 1864, con ông là Trương Quyền lên thay và tiếp tục kháng chiến đánh quân Pháp. Ông được đồng bào Thượng Striêng và M'nông hết ḷng ủng hộ. Ông mang quân sang Tây Ninh liên kết với Pu Cambo, một nhà cách mạng người Miên rồi cùng với đồng bào gốc Khmer, Thượng và Chàm tiến đánh các đồn bót và cơ quan hành chánh tỉnh Tây Ninh. Ngày 07/06/1866 nghĩa quân tấn công giết tên đầu tỉnh là thanh tra Larciaue và phục kích giết một tên đại tá.

Năm 1869, đồng bào Striêng lập căn cư ở phía bắc tỉnh Tây Ninh. Nghĩa quân thường xuyên chặn đánh những đoàn trâu ḅ từ Campuchia gửi qua tiếp tế cho quân Pháp. Pháp tăng cường quân cùng với sự trở lực của tên Huỳnh Công Tấn đi tàn sát các buôn làng. Căn cứ kháng chiến của đồng bào Striêng rút về hợp với đoàn quân của Trương Quyền và Pu Cambo. Về sau, Trương Quyền bị thất bại và hy sinh.

DI TÍCH

Ṭa Thánh Cao Đài: Nằm cách thị xă Tây Ninh về hướng đông 4 km (2,5 miles), ṭa thánh Cao Đài là một công tŕnh kiến trúc nghệ thuật nổi tiếng, được bắt đầu đặt nền móng xây dựng vào khoảng năm 1926. Ṭa thánh tọa lạc trong một khuôn viên rộng 1 km2 (0,4 sq miles). Nổi bật trong quần thể kiến trúc là đền Thánh, với đặc trưng tiêu biểu cho kiến trúc đền, chùa của tôn giáo Cao Đài. Công tŕnh thể hiện sự hài ḥa giữa mỹ thuật kiến trúc Á Đông và Phương Tây. Với các ṿm mái và hoa văn trang trí khéo léo, tinh xảo, thể hiện tinh thần tam giáo.

Tại đây c̣n có một số kiến trúc đẹp và kỳ vĩ khác nằm trong quần thể như cổng Chánh Môn, các Tháp Mộ, đền thờ Phật Mẫu. Đặt biệt là bá huê viên với nhiều cây cảnh, nhiều loại hoa và cỏ lạ. Lễ hội lớn nhất hàng năm diễn ra nơi đây là vía Đức Chí Tôn (ngày 09 tháng 1 âm lịch) và vía Đức Diêu Tŕ Kim Mẫu (rằm tháng 8 âm lịch). Lễ hội đậm đà bản sắc dân tộc và cuốn hút hàng vạn người từ mọi miền đất nước về dự và chiêm bái thưởng ngoạn cảnh quan. Du khách có dịp đi chợ Long Hoa, một chợ lớn nhất Tây Ninh, có bán các thực phẩm chay phong phú, đa dạng và bạn sẽ được thưởng thức những món ăn "chay giả mặn" thật độc đáo, khéo léo và ngon miệng.

Chùa Phước Lưu: Tọa lạc tại 259 quốc lộ 22, thị trấn Trảng Bàng, huyện Trảng Bàng. Trước kia chùa chỉ là am nhỏ, đến năm 1900 mới h́nh thành chùa Bà Đồng. Phật tử thuộc phái Liễu Quán đă đóng góp xây lại ngôi chùa và đặt tên là chùa Phước Lưu. Trong chùa có tượng Hộ Pháp, tượng thập điện Minh Vương. Chùa đă được trùng tu và sửa chữa nhiều lần.

Tháp Cổ B́nh Thạnh: Đây là một tháp Chàm được xây dựng 1.000 năm trước đây ở xă B́nh Thạnh, huyện Trảng Bàng. Tháp cổ B́nh Thạnh được xem là di tích thuộc nền văn hóa Óc Eo.

LỄ HỘI

Hội Xuân Núi Bà: Kéo dài từ ngày 15 đến ngày 18 tháng 1 âm lịch. Đây là hội đông vui nhất (sau Tết nguyên đán) thời tiết khô ráo, cảnh vật trên núi rất đẹp. Nhiều khách hành hương về lễ hội v́ nhu cầu tín ngưỡng, nhưng số người đi tham quan, du lịch, vui chơi chiếm một tỉ lệ không nhỏ. Trong những ngày này, trên đoạn đường trên từ thị xă Tây Ninh đến chân núi Bà người và xe cộ đi lại tấp nập.

Hội Vía Bà: Tổ chức vào ngày 5 và 6 tháng 5 âm lịch, ngày 5 là chính hội.  Vào lúc không giờ đêm 4 rạng ngày 5, lễ tắm Bà được tổ chức trang nghiêm tại đền thờ. Lúc này cửa điện được đóng kín, không có khách bên ngoài tham dự. Điều hành lễ tắm Bà là một phụ nữ cao tuổi. Tắm xong, người ta mặc áo mới cho Bà, rồi lần lượt lạy bà. Lúc bấy giờ nhang đèn trong điện được thắp sáng lên và các điện được mở cửa đón khách vào lễ bái. Đến khoảng 6 giờ sáng th́ các sư ở chùa lân cận trong bộ áo màu vàng lần lượt kéo đến làm lễ. Trong suốt ngày chính hội, từ sáng tinh mơ đến 8 giờ tối, khói hương cháy nghi ngút trên bàn thờ Linh Sơn Thánh Mẫu và Bà Chúa Xứ, bàn thờ Phật, bàn thờ hộ Pháp, bàn Giám Trai, bàn ông Tiêu.

Trở Lại

     -o0o-

 

Xin gởi bài mới và ư kiến đóng góp về Tạng Thư Phật Học qua địa chỉ email: tangthuphathoc@gmail.com