Đồng Nai
ĐỊA LƯ
Diện
tích: 5.862,37 km2.
Dân số (2004): 2.078.209 người.
Tỉnh lỵ: thành phố Biên Ḥa.
Các huyện: Tân Phú, Định Quán, Vỉnh Cửu, Thống Nhất,
Long Khánh, Xuân Lộc, Long Thành, Nhơn Trạch, Trảng
Bom, Cẩm Mỹ.
Dân tộc: Việt (Kinh), Hoa, Xtiêng, Êđ
ê,
Chơ Ro, Khmer, Chăm, Mạ...

Đồng Nai là tỉnh miền Đông
Nam Bộ, cửa ngơ phía đông Sài G̣n, phía bắc giáp Lâm
Đồng, phía đông giáp B́nh Thuận, phía tây giáp B́nh
Dương, B́nh Phước và Sài G̣n, phía nam giáp Bà Rịa
Vũng Tàu. Thành phố Biên Ḥa cách Sài G̣n 28 km (18
miles) và cách Hà Nội 1.695 km (1,059 miles).
Tỉnh Đồng Nai nằm trên lưu
vực sông Đồng Nai và một nhánh là sông La Ngà. Địa
h́nh Đồng Nai gồm một số thung lũng, đồng bằng, g̣,
đồi thấp, tuy nhiên phần đất tiếp giáp với cao
nguyên Lâm Viên và Di Linh th́ tương đối cao. Phần
lớn đất ở Đồng Nai là
đất
Bazan, đất xám và
đất
phù sa cũ rất tốt cho việc trồng trọt. Bởi vậy Đồng
Nai trồng nhiều cây công nghiệp cây cao su, cà phê...,
cây ăn trái và cây công nghiệp ngắn ngày.
Khí hậu: có 2 mùa: mùa mưa
từ tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 4 đến
tháng 11 năm sau. Nhiệt độ trung b́nh năm 25,4
°
C đến 27,2
°
C. Là tỉnh có sông Đồng Nai, sông La Ngà, sông Lá
Buông chảy qua, nhà máy thủy điện Trị An.
Giao thông: đường bộ chính
là quốc lộ 1, từ Hà Nội vào. Quốc lộ 20 từ Biên Ḥa
lên Lâm Đồng, quốc lộ 51 Đồng Nai đi Bà Rịa Vũng Tàu.
Đường sắt tuyến Bắc Nam đi qua thành phố Biên Ḥa
đến thành phố Sài G̣n.
Đồng Nai là tỉnh có công
nghiệp phát triển, thu hút vốn đầu tư nước ngoài lớn
thứ hai của khu vực miền Nam, chỉ sau Sài G̣n. Xung
quanh thành phố Biên Ḥa có nhiều khu công nghiệp
rộng lớn, nhiều nhà máy, xí nghiệp, công ty. Đồng
Nai có nhiều nghề thủ công. Đồ gốm sứ Đồng Nai đẹp
có tiếng trong nước.
Đồng Nai có những rừng cao
su, cà phê bạt ngàn. Rừng cấm Nam Cát Tiên có khu
rừng nguyên sinh rộng lớn. Đến Đồng Nai du khách có
thể tham gia những chuyến du lịch sinh thái trong
các khu rừng hoặc vườn cây ăn quả, cũng như săn bắn,
du thuyền, câu cá trên sông Đồng Nai, dă ngoại các
thắng cảnh: Hồ Long Ẩn, khu văn hóa Suối Tre, thác
Trị An, rừng Mă Đà... nghiên cứu các di tích khảo cổ:
mộ cổ hàng G̣n, đ
àn
đá B́nh Đá...
THẮNG CẢNH
Khu Du Lịch Bửu Long Hồ
Long Ẩn: Cách trung
tâm thành phố Biên Ḥa 6 km (4 miles), khu du lịch
Bửu Long được xây dựng quanh một hồ nước nhân tạo do
khai thác đá, đó là hồ Long Ẩn. Hồ rộng hàng chục
ha. Có thể nói hồ Long Ẩn là một bức tranh thu nhỏ
của Vịnh Hạ Long. Vô số vách đá soi bóng trên mặt
nước xanh tạo cho hồ vẻ đẹp hấp dẫn trong một cảnh
sắc thiên nhiên mỹ lệ: núi cao, hồ rộng, hài ḥa với
các công tŕnh kiến trúc nghệ thuật mang dấu ấn tôn
giáo của nhiều thời đại.
Đến Bửu Long, du khách sẽ lần lên ốc đảo cao 35 m
(105 ft) nằm giữa ḷng hồ, nơi quần tụ của hàng chục
loài chim quí hiếm, du ngoạn trên mặt hồ bằng tàu
thủy, tham quan con rồng đá phun nước khổng lồ, các
tiểu cảnh nàng tiên cá, nhà rông... của công viên
khủng long khánh thành từ tháng 2 năm 1995.

Cạnh hồ là hai ngọn núi thấp, trên núi Bửu Long có
ngôi chùa cổ Bửu Phong nổi tiếng nằm thấp thoáng sau
cây bồ đề lớn; có hang đá Long Sơn Thạch Động h́nh
dạng giống hàm ếch với nhiều nhũ đá rũ xuống đầy vẻ
thuyền bí. Sau khi tham quan hồ, leo núi văng cảnh
chùa, vui thú với các tṛ chơi trên mặt nước, du
khách c̣n có thể kết hợp về thăm làng bưởi Tân Triều
nổi tiếng, tham quan nghề đục đá truyền thống mang
dấu ấn nghệ thuật điêu khắc cuối thế kỷ 17 thuộc
miền Lưỡng Quảng, Trung Hoa của một cộng đồng nhỏ
người Hoa sống gần hồ.
Sông Đồng Nai:
Sông có chiều dài 480 km (300
miles) bắt nguồn từ Tây Nguyên, đoạn chảy qua tỉnh
Đồng Nai dài 294 km (882 miles). Dọc hai bên bờ là
các làng mạc b́nh yên và các đảo nhỏ với cảnh đẹp
nên thơ. Công ty du lịch Đồng Nai hiện đang phát
triển loại h́nh du lịch trên sông rất hấp dẫn khách
du lịch. Trên độ dài 10 km (6 miles) đường sông,
khách du lịch có thể thăm các làng đảo, vườn bưởi,
ḷ gốm, ḷ ép mía đường...
Thác Trị An:
Ở hạ lưu sông Đồng Nai, cách
trung tâm thành phố Biên Ḥa 50 km (31 miles). Thác
Trị An cao 8 m (24 ft) rộng 30 m (90 ft), có vẻ đẹp
thiên nhiên hùng vĩ. Các đảo nhỏ và các tảng đá lớn
có h́nh thù
đẹp
mắt nằm rải rác giữa làn nước trong vắt chảy suốt
ngày đ
êm.
Bên cạnh ḍng thác là nhà máy thủy điện Trị An cung
cấp điện cho các tỉnh miền Nam.
Rừng Quốc Gia Nam Cát
Tiên: Nam Cát Tiên
là tên gọi một vùng đất nằm gọn trong đoạn uống khúc
của sông Đồng Nai, tọa lạc ngay trên ranh giới của
cả 3 tỉnh Đồng Nai, B́nh Phước và Lâm Đồng. Khu rừng
cấm Nam Cát Tiên là phần chót và cao nhất của huyện
Tân Phú (Đồng Nai) có diện tích 36.000 ha, đại diện
cho cả hệ thực vật và
động
vật Nam bộ.
Khu rừng có cảnh thiên nhiên đa dạng: vừa có đồi vừa
có băi ven sông, vừa có các trảng rộng lớn bằng
phẳng, lại có các ḍng chảy dốc. Vào mùa mưa các
ḍng suối hiền lành trở thành các ḍng thác, nước đổ
trắng xóa trên các triền đá lớn. Nhiều đoạn thác
quanh co, lượn khúc tạo ra những băi cát vàng rộng
như các băi tắm tự nhiên. Tục truyền, nơi đây có
nàng tiên thường xuống hạ giới để vui đ
ùa
và tận hưởng ḍng nước trong mát, nên được gọi là
"Nam Cát Tiên".
Giữa ḍng sông rộng lớn nổi lên các ḥn đảo chạy dài
theo con nước. Trên đảo, cây cổ thụ mọc xen với đám
cỏ rộng có thể làm nơi cắm trại, đốt lửa đ
êm
lư tưởng. Dọc ven sông, theo lộ chính về phía tay
trái là toàn bộ các kiểu rừng già, hỗn giao của các
loại cây quí: gơ, giáng hương, trắc, cẩm lai, gụ...
Bên phải của con đường rừng là thác trời, một ghềnh
thác kỳ thú nhất của Nam Cát Tiên. Tiếp tục băng
rừng, qua các thung lũng sâu sẽ đến Bàu Sấu, nơi
chứa nước rộng nhất, nằm ở khu tâm của rừng cấm Nam
Cát Tiên. Ḷng Bàu Sấu chứa nhiều loại cá, đặc biệt
có cả cá sấu nước ngọt. Ven Bàu là nơi tập hợp của
các loài chim lớn như công, trĩ, gà lôi, sến, giang,
ṃng két, le le, cù
đen...
Nam Cát Tiên không những có cảnh tham quan ngoạn mục,
lại nằm trong khu vực chuyển tiếp của khí hậu miền
núi và
đồng
bằng nên Nam Cát Tiên có một dạng khí hậu độc đáo.
Cùng với địa h́nh có nhiều sông suối bao bọc làm cho
khu rừng già vừa được giư ơnguyên vẹn vừa trở thành
nơi qui tụ hầu hết các kiểu rừng đồng bằng Nam bộ.
Đây là khu rừng nguyên sinh tiêu biểu cho hệ sinh
thái rừng ẩm nhiệt đới vùng thấp. Rừng có nhiều cây
cổ thụ như bằng lăng, gỗ đỏ; hơn 600 loài thực vật,
hơn 100 loài cây gỗ quư, hàng trăm loại cây dược
liệu, hơn 60 loài hoa phong lan...
Về động vật có 240 loài chim, có những loài chim quư
hiếm như: trĩ lông đỏ, c̣ quắm xanh, tê giác một
sừng, voi...
Các nhà khảo cổ học mới phát hiện một đền thờ vật
linh thuộc nền văn hóa Phù Nam trên đỉnh ngọn đồi A1
(xă Quảng Ngăi, huyện Cát Tiên, Lâm Đồng) tại khu
vực đầu nguồn sông Đồng Nai. Đó là khu đền thờ được
xây gạch thô, bệ, khung diềm cửa, cột trụ bằng đá
xanh granit chạm trổ hoa văn, các linga bằng vàng
hoặc bằng càng bịt bạc, một linga Yoni cao 2,1 m
(6.3 ft), đường kính 0,7 m (2.1 ft) bằng đá xanh mài
bóng, lớn nhất Đông Nam Á cùng hơn một trăm miếng
vàng có khắc họa h́nh ảnh sinh hoạt thời đó: các vũ
nữ, chiến binh, voi, ḅ, hoa sen... Đây là công
tŕnh khảo cổ có giá trị văn hóa, lịch sử và tín
ngưỡng lớn để có thể xác định được sự tồn tại, nguồn
gốc của một vương quốc đă bị lăng quên hơn 1.300 năm.
Làng Bưởi Tân Triều:
Cách Biên Ḥa 25 km (16
miles). Đến đây dưới bóng mát của vườn cây, du khách
có thể thưởng thức nhiều loại bưởi với những hương
vị khác nhau. Ngọt dịu và hơi chua là bưởi Thanh Trà,
ngọt lịm là bưởi đường, ruột hồng và vị ngọt mát dịu
là bưởi Xiêm... Làng bưởi Tân Triều rất thích hợp
cho những buổi tham quan, pinic. Đến đây du khách
được hưởng hương vị ngọt ngào, thanh tao của một
loại trái cây miền nhiệt đới.
Làng Gốm Ven Sông Đồng
Nai: Chạy dài
khoảng 10 km (6 miles) ven sông Đồng Nai. Từ Biên
Ḥa đến cù lao Mỹ Quới, có nhiều làng mạc và các đảo
nhỏ thuộc phường Tân Vạn, thành phố Đồng Nai. Hàng
trăm ḷ gạch và gốm sứ, đặc biệt có nhiều xí nghiệp
gốm sản xuất qui mô lớn như gốm DONA, xí nghiệp gốm
lâu đời và giàu truyền thống với các sản phẩm dùng
cho trang trí nội thất, đồ sành sứ, lọ cắm hoa, chậu
trồng cây cảnh, đồ trang trí treo tường, tượng người,
vật...được thế giới biết đến từ những năm 1920. Đến
đây du khách c̣n có thể viếng thăm những vườn bưởi,
những ḷ ép mía và nấu đường thủ công vừa t́m hiểu
cuộc sống của cư dân trên cù lao.
Danh Thắng Đá Chồng Định
Quán: Khu danh
thắng này cách thành phố Biên Ḥa khoảng 50 km (31
miles). Từ ngă ba Dầu Giây (Đồng Nai) rẽ phải theo
quốc lộ 20 hướng Đà Lạt, đến địa phận Định Quán du
khách sẽ gặp một quần thể núi đá tạo dáng đẹp đẽ, kỳ
lạ ven lộ. Đó là danh thắng Đá Chồng một cảnh đẹp
nổi tiếng của tỉnh Đồng Nai và cũng là nơi khách
nghiên cứu khảo cổ di chỉ văn hóa Óc Eo.
Với ba ḥn đá nằm chồng lên nhau khá chông chênh ở
độ cao 36 m (108 ft) so với mặt đường, ḥn Đá Chồng
nằm sát quốc lộ 20 về hướng đông bắc như một tượng đ
ài
kỳ vĩ với gió sương. Ḥn dưới cùng lớn gấp hai ḥn
nằm trên, ḥn trên cùng th́ nằm ch́a ra phần nữa
ngoài bên dưới như muốn đổ xuống bất kỳ lúc nào.
H́nh thù kỳ dị này đă làm ngạc nhiên biết bao du
khách.
Ḥn D́a nằm về phía tây bắc của quần thể Đá Chồng,
là cụm núi có h́nh dạng rất độc đáo và
đẹp
mắt. Ḥn D́a có h́nh chữ nhật không đều, một đầu to,
một đầu nhỏ nhưng lại nằm trên một tảng đá nhỏ hơn
nhiều lần, ở độ cao 43 m (129 ft) so với mặt đất,
cây cối mọc um tùm tạo nên những hang động đầy vẻ kỳ
bí.
Núi Đá Vôi c̣n gọi là núi Bạch Tượng, nằm về phía
tây nam của khu thắng cảnh Đá Chồng, sau chùa Thiện
Chơn 10 m (30 ft). Núi có h́nh 2 con voi lớn nằm
cạnh nhau. Trên đỉnh ḥn đá là Voi Đực có tượng Phật
Thích Ca khổng lồ nh́n về hướng đông được xây và
đặt
vào đầu năm 1970. Dưới chân của Voi Đực có hang Bạch
Hổ. Ḥn đá kế bên gọi là Voi Cái. Từ hang Bạch Hổ
con người đă tạo nên một hành lang tam cấp uốn theo
núi Đá Voi để du khách có thể lên đỉnh của đá Voi
Đực và từ đây du khách có thể phóng tầm mắt nh́n ra
toàn cảnh của khu danh thắng, một cảnh quan thiên
nhiên diễm lệ đa dạng đến tuyệt vời. Đan xen giữa
những ḥn núi đá là những thung lũng mênh mông thăm
thẳm xanh mượt, lấp loáng những hồ nước và cả những
ḍng suối uốn lượn dưới chân đồi.
Danh thắng Đá Chồng không những là một điểm tham
quan kỳ thú cho khách du lịch mà c̣n thu hút nhiều
nhà khảo cổ học, bảo tàng học v́ chính nơi đây c̣n
lưu giữ nhiều di tích của cuộc sống người tiền sử.
Danh thắng này đă được Bộ Văn Hóa công nhận là di
tích quốc gia.
KINH TẾ
Dân
chúng trong tỉnh là người Kinh, theo các đạo Phật,
Thiên Chúa, Cao Đài, Ḥa Hảo.
Hoa màu chính trong tỉnh là
lúa, hồ tiêu, các cây kỹ nghệ như cao su, mía, cà
phê, thuốc lá. Quận Long Thành có rừng cao su và
rừng trồng mía rất rộng. Diện tích đất trồng cây ăn
trái trong tỉnh khá lớn, gồm các loại cây như mít,
vú sữa, bưởi, chôm chôm, măng cụt, sầu riêng. Bưởi
Biên Ḥa ai cũng biết tiếng.
Lâm sản của tỉnh khá dồi
dào, dân chúng khai thác các loại gỗ làm nhà và củi,
khoáng sản của tỉnh phần lớn là các hầm đá ong, đá
xanh, đá trắng và các hầm cát trắng ở một số núi.
Đồng Nai có một số ngành kỹ
thuật và tiểu thủ công nghệ khá phát triển, nhiều
xưởng làm gạch ngói và nhiều ḷ gạch tiểu công nghệ,
ḷ gốm, trại cưa, nhà máy gạo, ḷ than. Ngành sản
xuất đồ sành, đồ gốm rất mỹ thuật.
LỊCH SỬ
Tỉnh
Đồng Nai xưa là xứ Bà Lỵ hay Mă Lễ, cũng gọi là Bà
Lợi hay Bà Lịa (có lễ tên Bà Rịa nay do âm chữ Bà
Lịa mà ra), bao phủ vùng đất bao la, có các bộ lạc
Chàm và Khmer sống rải rác (nay c̣n di tích ở chùa
Bửu Sơn và chùa Phước Lộc). Đến thế kỷ thứ 8, hai
sắc dân tranh chấp nhau dai dẳng cho đến lúc người
Khmer thua, phải lui vào các miền núi non hiểm trở.
Từ thế kỷ 16, nhân lúc nhà
Thanh chiếm Trung Hoa, một số bại tướng nhà Minh
chạy sang quy phục Việt Nam, các Chúa Nguyễn bèn cho
Cao Lôi Liêm, Dương Ngạn Địch và khoảng 3.000 quân
sĩ vào khai phá đất Đông Phố, Bà Lỵ. Năm 1698, chúa
Nguyễn Phước Chu sai chưởng cơ Nguyễn Hữu Cảnh kinh
lược các xứ Cao Miên và lấy xứ Lộc Dă (Đồng Nai) đặt
làm huyện Phước Long, lập dinh Trấn Biên (đất Gia
Định), rồi đưa dân từ Quảng B́nh, Thuận Hóa trở vào
cùng với người Minh khai lập đồn điền, đặt thôn ấp.
Thanh Hà là xă đầu tiên của người Hoa.
Năm 1802, dinh Trấn Biên
đổi thành trấn Biên Ḥa. Đến năm 1808, Gia Long đem
trấn Biên Ḥa nhập vào Gia Định, đặt Phước Long
thành phủ, đặt ra các tổng Phước Chính, Phước An,
B́nh An, Long Thành làm huyện. Năm 1832, Minh Mạng
đặt Biên Ḥa thành tỉnh. Năm 1837, vua lập thêm hai
phủ Phước Tuy và các huyện Nghĩa An, Long Khánh,
Phước B́nh. Vào năm 1840, v́ dân số các bộ lạc ở sơn
cước gia tăng, triều đ́nh đặt thêm bốn phủ: Tân Định,
Tân B́nh, Tân Lợi và Tân Thuận. Năm 1851, Tự Đức lập
hai huyện Phước B́nh và Long Khánh vào các phủ Phước
Long và Phước Tuy. Tỉnh Biên Ḥa lúc bấy giờ giáp
giới phía bắc tỉnh B́nh Thuận, phía nam với tỉnh Gia
Định, phía đông với biển Đông Hải và phía tây với
Cao Miên.
Khi Pháp xâm lược miền Nam
nước ta, dân chúng Biên Ḥa đă theo anh hùng Phan
Văn Đạt kháng chiến, đánh quân Pháp khắp nơi. Tháng
6 năm 1861, trong một trận giao tranh ở Biên Ḥa ông
bị giặc bắt. Pháp biết đây là vùng đất phát xuất của
nhiều tổ chức kháng chiến liền huy động quân lính
chiếm tỉnh này. Ngày 14/12/1861, đại binh thủy bộ
của quân Pháp và Tây Ban Nha theo sông Đồng Nai vây
chiến lũy Mỹ Ḥa (cách tỉnh lỵ Biên Ḥa 8 cây số về
hướng Tây Nam, khoảng ngă ba quận Di An). Hơn 3000
quân ta chiến đấu rất dũng mănh, nhưng thượng thư
Nguyễn Bá Nghi chủ ḥa không đánh nên chiến lũy mất
ngày 15/12. Ngày hôm sau Pháp chiếm luôn thành Biên
Ḥa. Lúc bấy giờ, ḷng dân muốn chiến đấu mà triều
đ́nh Tự Đức th́ do dự không dứt khoát lúc muốn lúc
không. Pháp quyết đô hộ nước ta mà triều đ́nh không
biết tính sao, chỉ muốn hàng. V́ vậy, nước ta mất ba
tỉnh Biên Ḥa, Gia Định và Định Tường qua ḥa ước
Nhâm Tuất 1882. Sau đó, quân Pháp chia Biên Ḥa
thành ba tỉnh là Biên Ḥa, Thủ Dầu Một và Bà Rịa.
Năm 1905, anh hùng Đoàn Văn
Cự nổi lên đánh Pháp, hoạt động mạnh từ Thủ Đức đến
vùng Vĩnh Cửu. Về sau, ông bị tử trận trong một cuộc
giao tranh với quân Pháp. Năm 1916, trong thời Đệ
Nhất Thế Chiến, dân chúng Biên Ḥa nổi lên chống bắt
lính. Ngày 23/01 năm đó dân tại xă Chánh Mỹ Trung
vây xă và
đánh
chết bọn công sai không cho mộ lính.
DI TÍCH
Mộ Cổ Hàng G̣n:
Là một di tích văn hóa
đă được xếp hạng tiêu biểu cho nền văn hóa cổ đại
xuất hiện cách đây khoảng hơn 2.500 năm. Mộ cổ Hàng
G̣n do ông Bouchtj một kỹ sư cầu đường người Pháp
phát hiện vào năm 1927 khi mở đường liên tỉnh số 2
nối Long Khánh và Bà Rịa.
Mộ có kiến trúc gồm hai hàng trụ đá bao quanh hầm
mộ. Có 10 trụ đá cao từ 2,5 đến 3 m (7.5 đến 9 ft).
Hầm mộ có dạng h́nh hộp kích thước 4,2 x 2,7 và cao
1,6 m (4.8 ft). Nét đặc biệt của ngôi mộ cổ là
được
ghép bởi những tấm đá hoa cương nặng hàng tấn, riêng
nắp mộ ước tính khoảng 10 tấn. Có nhiều phiến đá
bằng phẳng, xếp cân đối, tinh vi, khoa học, biểu
trưng cho nền văn minh của người xưa. Ngôi mộ này là
một trong những di tích tiêu biểu cho loại h́nh
"DolMen" ở Đông Nam Á.
Từ năm 1992, mộ cổ Hàng G̣n được trùng tu và xây
tường bảo vệ, lát gạch quanh hầm mộ để chống xói ṃn
và trồng nhiều cây cảnh xung quanh. Đây là ngôi mộ
cổ nhất và quy mô nhất tại Việt Nam c̣n được bảo tồn
đến ngày nay. Mộ cổ Hàng G̣n nằm ở xă Xuân Tân,
huyện Long Khánh, trên độ cao 250 m (750 ft) về phía
tây tỉnh lộ 2 (Long Khánh đi Bà Rịa), cách thành phố
Biên Ḥa khoảng 80 km (50 miles).
Đền Thờ Nguyễn Tri
Phương: Tọa lạc tại
phường Bửu Ḥa, Biên Ḥa, đền được xây dựng vào
khoảng đầu thế kỷ 19 để thờ Trần Thành Hoàng của dân
địa phương. Đến năm 1873, khi Nguyễn Tri Phương mất
được nhân dân tạc tượng thờ tại đây. Đền có kiến
trúc theo kiểu chữ "Công" nằm bên hửu ngạn sông Đồng
Nai. Đền được Bộ Văn Hóa công nhận là di tích lịch
sử văn hóa năm 1991.
Đền Thờ Nguyễn Hửu Cảnh:
Đền được xây dựng
cách đây khoảng 300 năm, là công tŕnh kiến trúc cổ
để tưởng niệm ông Nguyễn Hửu Cảnh, người đầu tiên có
công khai phá đất Đồng Nai. Đền thờ được dựng bên
sông Đồng Nai, mặt tiền soi bóng xuống ḍng sông thơ
mộng. Đền được trùng tu nhiều lần. Triều Nguyễn
trùng tu hai lần, Gia Long năm thứ nhất và năm 1851.
Năm 1960 đền được trùng tu lại.
Chùa Long Thiền:
Được xây dựng vào năm
1664 là một trong ba ngôi chùa có niên đại sớm nhất
ở Đồng Nai, và
được
trùng tu nhiều lần vào các năm: 1748, 1842, 1952 và
đầu
thập niên 1990.
Chùa là công tŕnh kiến trúc tôn giáo theo kiểu chữ
"Tam", chạm trổ công phu, ở điện Phật có nhiều pho
tượng cổ bằng đất nung và bằng đồng. Chùa Long Thiền
là nơi truyền bá Phật giáo đầu tiên ở miền Nam. Hiện
nay là trụ sở giáo hội Phật Giáo tỉnh Đồng Nai.
Chùa Bửu Phong:
Nằm trên ngọn núi Bửu
Long, cách Biên Ḥa 7 km (4 miles). Leo 199 bậc đá
lên tới đỉnh, ngôi chùa Bửu Phong tọa lạc tại đó.
Chùa được xây dựng vào năm 1679, theo h́nh chữ "Tam"
gồm chính điện, giảng đường, nhà thờ tổ, ngoài ra
c̣n có nhiều pḥng ni phái và nhà dưỡng tăng. Trong
chùa có những pho tượng mang nét đặt biệt Á Đông và
nhiều cổ vật như cặp nai vàng đời Nguyễn, đầu
"phường cổ" (nhà Phật), tượng Phật nằm, tháp Bửu
Phong rêu phong cổ kính và xá lợi, một báu vật nhà
Phật. Xung quanh chùa có Long Đầu Thạch (c̣n gọi là
Hàm Rồng, Hàm Hổ) và
đ
ài
Tam Thế Phật.
Đ́nh Tân Lân:
thuộc phường Ḥa B́nh, thành
phố Biên Ḥa. Đền được xây dựng thời vua Minh Mạng
(1820 -1840), nơi thờ Trần Biên đô đốc tổng quân
trần Thượng Xuyên, là người có công mở mang nông Đại
Phố (phố Nông Nại ở thành phố Biên Ḥa). Đ́nh Tân
Lân là công tŕnh tiêu biểu cho nghệ thuật kiến trúc
thời Nguyễn Ḥa với nghệ thuật kiến trúc đặc trưng
của vùng Hoa Nam (Trung Quốc) với các tác phẩm điêu
khắc đá, chạm khắc gỗ, phù
điêu
ghép sành, cẩn xà cừ, tượng sành Hoa Nam... trong đó
ẩn chứa những triết lư nhân sinh sâu sắc.
Đ́nh An Ḥa:
Được xây dựng khoảng năm 1788,
1792, và
đă
được trùng tu 3 lần vào các năm 1944, 1953, 1994.
Đ́nh An Ḥa là di tích kiến trúc nghệ thuật của xă
An Ḥa, huyện Long Thành. Đ́nh có kiến trúc chữ
"Công". Trong đ́nh c̣n lưu giữ sắc phong của vua Tự
Đức, và nhiều Hoành Phi, câu đối từ các đời Gia
Long, Minh Mạng, Tự Đức.
LỄ HỘI
Lễ Hội Cúng
Biển Mỹ Long (Lễ Hội Nghinh Ông):
Hàng năm lễ hội cúng biển được
tổ chức trong 3 ngày, từ 10 đến 12 tháng 5 âm lịch
tại miếu Bà Chúa Xứ, biển Mỹ Long, xă Mỹ Long, huyện
Cầu Ngang. Trong 3 ngày này rất nhiều nghi lễ được
tiến hành trang trọng như lễ Nghinh Ông Hải Nam
(trên thuyền là các vị thần hóa trang Quan Công,
Châu Xương, Quan B́nh), lễ rước Bà Chúa Xứ, rước
Cậu, lễ Nghinh Ông (rước cá Ông để tỏ ḷng biết ơn
cá Ông với tàu thuyền khi đi biển gặp nạn), lễ tế
thần nông, chánh tế, tế nghinh ngũ phương đi bộ ṿng
quanh thị trấn và nhiều tṛ chơi dân gian như nhảy
bao, kéo co, bắt cá kèo, cá bống. Lễ hội kết thúc
với việc đưa tàu ra biển. Lễ hội do những người làm
nghề biển ở Mỹ Long tổ chức lần đầu vào năm 1937,
với mục đích cầu an. Dần dần đă lôi cuốn được nhiều
người tham dự. Những năm gần đây vào những ngày lễ
hội, hàng chục ngàn khách gần xa đă về đây dự lễ
hội, tham quan làm cho không khí ở vùng này càng náo
nhiệt.
Lễ Vào Năm
Mới (Chol Chnam Thmay):
Đây là Tết của người Khmer ở
vùng đồng bằng sông Cửu Long. Lễ này được tổ chức
vào tháng 4 dương lịch (nhằm vào ngày giữa tháng tùy
năm).
Lễ Cúng Ông
Bà (Lễ Đôn Ta): Là
lễ lớn của đồng bào Khmer, được tổ chức vào 3 ngày
mỗi năm, từ 29/8 đến ngày 1/9 âm lịch.
Lễ Cúng
Trăng: Vào ngày
15/10 âm lịch, đồng bào Khmer tổ chức lễ cúng trăng
để tưởng nhớ đến công ơn của mặt trăng, coi như một
vị thần điều tiết mùa màng, đă giúp họ làm ăn được
khá giả trong năm. Trong dịp lễ cúng trăng, bà con
Khmer tổ chức cuộc đua ghe ngo rất vui.
Lễ Dâng
Bông: Mỗi khi phum,
sóc cần xây dựng cầu, đường, nhà trường, chùa chiền,
các công tŕnh công cộng... đều tổ chức lễ dâng bông
để quyên góp tiền xây dựng. Các sư săi đọc kinh cầu
nguyện, các địa phương đón các đoàn hát dân tộc về
biểu diễn.
Lễ Dâng
Phước: Tại gia đ́nh
Khmer, ở các tỉnh đồng bằng Nam bộ thường tổ chức lễ
này để tưởng nhớ những người thân qua đời.