Lâm Đồng
ĐỊA LƯ
Diện
tích: 9.7675 km2.
Dân số (2004): 1.059.508 người.
Tỉnh lỵ: Thành phố Đà Lạt.
Các huyện: Thị xă Bảo Lộc, các huyện Lạc Dương, Đơn
Dương, Đức Trọng, Lâm Hà, Bảo Lâm, Di Linh, Đạ Huoai,
Đạ Tẻh, Cát Tiên.
Dân tộc: Việt (Kinh), Cờ Ho, Mạ, Lạt ...

Tỉnh Lâm Đồng nằm trên cao
nguyên thứ ba và cao nhất của vùng đất Tây Nguyên,
cao nguyên Lâm Viên - Di Linh (cao 1.500 m ( 4,500
ft) so với mặt biển), 70% diện tích là núi rừng,
phía Bắc giáp tỉnh Đắk Lắk, phía Đông Nam giáp các
tỉnh Khánh Ḥa, Ninh Thuận và B́nh Thuận, phía Tây
giáp các tỉnh B́nh Phước và Đồng Nai.
Phía Bắc tỉnh là hai dăy
núi đi song song từ Đông sang Tây, có đỉnh Chư Yang
Sin cao 2.405 m (7,215 ft), Yang Bông cao 1.749 m
(5,247 ft). Dăy núi phía Nam sát ngay Đà Lạt, có các
đỉnh Đan Sê Na cao 1.950 m (5,850 ft), Lang Biang
cao 2.163 m (6,489 ft), Ḥn Nga cao 1.948 m (5,844
ft). Giữa hai dăy núi này là nơi bắt nguồn của các
ḍng sông Đa Dung chảy vào Đồng Nai, sông Cái chảy
ra Nha Trang.
Phía Nam của hai dăy núi là
cao nguyên Lang Biang, trong đó có thành phố Đà Lạt
ở độ cao 1.475 m (4,425 ft). Phía Đông và Nam tỉnh
có cao nguyên nhỏ Di Linh cao 1.010 m (3,030 ft),
khá bằng phẳng và
đông
dân cư, là nơi đầu nguồn của sông La Ngà chảy vào
Đồng Nai.
Các nhà khí hậu học gọi Đà
Lạt là "thành phố của mùa Xuân", v́ nhiệt độ trung
b́nh cao nhất trong ngày 24
°
C và nhiệt độ trung b́nh thấp nhất trong ngày 15
°
C. Lượng mưa trung b́nh năm 1.755 mm (69 in). Mùa
khô từ tháng 12 đến tháng 3 năm sau. Mùa mưa từ
tháng 4 đến tháng 11. Có nắng trong tất cả các mùa.
Nhờ khí hậu đó cả thành phố Đà Lạt như một vườn hoa
trăm hương ngàn sắc suốt quanh năm.
Từ thành phố Sài G̣n đi ôtô
theo quốc lộ 20 chừng 300 km (188 miles) là
đến
Đà Lạt. Con đường sẽ đưa du khách lên cao dần và khi
vào Đà Lạt ở thác Prenn th́ trước mặt du khách đă là
ngút ngàn rừng thông hai lá, ba lá. Đi sâu vào thành
phố Đà Lạt, du khách sẽ khám phá một "bảo tàng" của
các thác nước, những hồ đẹp, thung lũng, hoa và
đồi
cỏ.
Nếu đi theo đường 11 từ
Phan Rang ngược sông Dinh lên, sau khi vược qua
những khu di tích lịch sử của nước Chămpa xưa và
những cánh đồng khô ráo quanh năm, chúng ta đứng
trên đ
èo
Ngoạn Mục với bức tranh thiên nhiên hùng vĩ đang
hiện ra trước mắt.
Mặc dù mới được thành lập
được hơn 100 năm từ năm 1893, nhưng Đà Lạt hôm nay
đă trở thành địa danh du lịch hấp dẫn du khách trong
và ngoài nước, một thành phố nghỉ mát lâu đời ở nước
ta.
Đà Lạt nổi tiếng về hồ, về
thác nước và rừng thông. Những hồ đẹp ở Đà Lạt là hồ
xuân Hương, hồ than Thở, hồ Đa Thiện, hồ Vạn Kiếp,
hồ Mê Linh. Những hồ này nằm ngay trong thành phố,
tên thơ mộng như cảnh hồ thơ mộng, mỗi hồ gắn liền
với một truyền thuyết xa xưa.
Cộng đồng dân cư Đà Lạt là
một sự ḥa nhập hết sức độc đáo của các dân tộc từ
các vùng Bắc, Trung, Nam. Cả tỉnh có trên 20 tộc
người, Đông nhất là người Việt Nam, sau đó là C'ho,
Mạ, Lạt, Srê, Chu ru,... Người dân ở quanh vùng Đà
Lạt và Di Linh trồng rau và hoa cung cấp cho các
tỉnh Nam Bộ. Thiên nhiên tươi đẹp đă tạo nên những
mẫu người Đà Lạt có phong cách đáng yêu hiền ḥa,
thanh lịch, mến khách được nhiều người cảm nhận.
Du khách đến Đà Lạt vừa
thăm viếng, vừa thưởng thức những sản phẩm Đà Lạt
bao gồm nhiều loại trái cây: hồng, mận, đ
ào,
bơ,... nhiều món ăn dân tộc độc đáo và các hàng lưu
niệm của riêng vùng Đà Lạt.
Vẻ đẹp của Đà Lạt c̣n được
ngợi ca nhiều và hấp dẫn du khách bởi hàng trăm,
ngàn loại hoa, loại phong lan độc đáo, hoặc được sản
sinh riêng trên mảnh đất này, hoặc được lai tạo từ
nhiều nơi như: Pháp, Anh, Hà Lan, Nhật Bản, Đài
Loan, Hồng Kông, Ấn Độ, Italy... như hoa Hồng, hoa
Bất Tử, hoa Đỗ Quyên, hoa Xác Pháo, hoa Tư Tưởng,
hoa Trà Mi, Mimoza, Mai Anh Đào, Thủy Tiên trắng...
Khách sạn du lịch đầu tiên
ở Đà Lạt được xây cất năm 1907, đó là ngôi nhà gỗ
mang tên khách sạn Hồ (Hotel du Lac). Ngày nay, đến
Đà Lạt du khách sẽ cảm nhận có một nét kiến trúc rất
nên thơ, lộng lẫy mà kín đáo qua từng ngôi biệt thự
ẩn ḿnh trong cây lá hoặc rực rỡ bởi được phủ lên cả
một rừng hoa...
THẮNG CẢNH
Thác
Prenn: Từ thành phố
Sài G̣n theo đường 20 lên Đà Lạt phải qua đ
èo
Prenn dài 10 km (6 miles). Thác Prenn ở ngay chân đ
èo
Prenn, nơi cửa ngơ ra vào Đà Lạt. Xuống ô tô, đi
khoảng 100 m (300 ft) du khách sẽ tận hưởngsự êm dịu
và duyên dáng của một bức màng nước đổ nhè nhẹ từ độ
cao 10 m xuống một thung lung nhỏ, xung quanh đầy
hoa lá và
đồi
thông. Một chiếc cầu cong nho nhỏ được Bắc ngang qua
hồ nước. Du khách hăy lên cầu và
đi
sát tới bức màn nước để cảm nhận sự dịu dàng của
thác Prenn.
Hồ Đa Nhim - Đèo Ngoạn Mục:
Khu vực này cách thành phố Đà
Lạt 40 km (25 miles) về hướng Đông, nằm trên đường
từ Phan Rang lên Đà Lạt. Nơi đây con đường phải leo
lên núi, qua nhiều đoạn gấp khúc. Trên đường, khi
nh́n về Phan Rang du khách sẽ thấy một bức tranh
thiên nhiên tuyệt đẹp. Chính v́ vậy, người ta gọi
con đường này là
đ
èo
Ngoạn Mục. Có lẽ đến đây bạn sẽ thấy ḿnh nhỏ bé
trước cảnh thiên nhiên hùng vĩ và sẽ nhận thức được
khả năng của con người trong việc chinh phục thiên
nhiên. Nơi đây c̣n có nhà máy thủy điện Đa Nhim với
hai đường ống dẫn nước trông xa như hai vệt sơn
trắng giữa nền xanh biếc của núi rừng.
Thung
Lũng T́nh Yêu:
Thung lũng cách trung tâm thành phố Đà Lạt chừng 5
km (3 miles) về phía Bắc, ch́m sâu bên sườn đồi với
những vườn thông mọc quanh năm xanh biếc. Dưới thời
vua Bảo Đại vùng này được gọi là thung lũng Ḥa B́nh.
Sau đổi thành Thung Lũng T́nh Yêu. Năm 1972 nhờ đắp
một con đập lớn vắt ngang thung lũng đă tạo ra một
hồ nước lóng có tên là hồ Đa Thiện. V́ có hồ mà
thung lũng này càng thêm thơ mộng, tăng thêm sự hấp
dẫn đối với du khách và nhất là
đối
với những lứa đôi ở khắp miền đất nước.
Trường Đại Học Đà Lạt:
Nằm tại trung tâm thành phố
trong khuôn viên rộng hơn 40 ha xanh mát những đồi
thông, phía Nam là sân golf và mặt nước Hồ Xuân
Hương lung linh quanh năm, sau lưng là dăy Lang
Biang hùng vĩ. Quang cảnh nơi đây đan xen cây cảnh,
rừng thông làm cho sinh viên luôn có cảm giác đang
sống và học tập giữa thiên nhiên. Đai học Đà Lạt là
một trong những trường đại học ra đời sớm ở miền Nam
vào cuối thập niên 50 của thế kỷ 20.
Thác Cam Ly:
Du khách đi dạo ven Hồ Xuân
Hương cũng nghe tiếng suối chảy róc rách.
Một
ḍng suối đổ vào hồ ở phía Bắc, một ḍng thác từ hồ
chảy ra ở phía Nam luồn dưới một cây cầu, ở gần bến
xe. Chân cầu là
đập
ngăn ḍng suối lại để điều ḥa mực nước hồ. Cả hai
ḍng suối đều mang tên Cam Ly. Ḍng chảy ra lượn về
phía Tây, khi cách hồ 2 km (1 miles) ḍng nước phải
vượt qua một đoạn suối bị chặn ngang bởi những tảng
đá hoa cương lớn, tạo thành thác Cam Ly đẹp nổi
tiếng của Đà Lạt.
Hồ Xuân Hương:
Là hồ đẹp nhất ở trung tâm
thành phố Đà Lạt. Đây là hồ lớn ở Đà Lạt, rộng chừng
5 km2 (2 square miles). Hồ Xuân Hương có h́nh mảnh
trăng lưỡi liềm, là nơi thơ mộng, cuốn hút khách
nhàn du, cũng là nơi ḥ hẹn của những đôi bạn tâm
t́nh. Mặt hồ phẳng lặng như tấm kính pha lê, soi
bóng những hàng thông reo hát suốt ngày đ
êm.
Những con đường quanh hồ rợp bóng cây tùng, tạo thêm
vẻ thơ mộng cho hồ. Du khách có thể ngồi dưới gốc
tùng buông lưỡi câu, hoặc đi chơi trên mặt hồ bằng
những chiếc xe đạp nước mang dáng con thiên nga,
hoặc dừng chân ở nhà Thủy Tạ với cách kiến trúc đặc
biệt, để thưởng thức những ly cafe đậm đ
à
hương vị Đà Lạt.
Sân Golf Đà Lạt:
Nằm ở trung tâm thành phố, sân
golf Đà Lạt là loại 18 lỗ theo tiêu chuẩn quốc tếvà
bắt đầu hoạt động từ đầu năm 1994.
Sân
golf ở vị trí đồi Cù nổi tiếng ngày xưa, với sườn
đồi thoai thoải soi bóng xuống Hồ Xuân Hương. Kỹ
thuật thiết kế độc đáo của sân golf và phong cảnh
thiên nhiên tuyệt diệu ở đây sẽ làm hài ḷng du
khách yêu môn thể thao quư tộc này.
Chợ Đà Lạt:
Là một trong những chợ đẹp của
Việt Nam, nổi tiếng với nhiều loại hàng hóa, đặc
biệt là trái cây, hoa, rau tươi mà ít có một nơi nào
so sánh nổi. Đây chính là nơi cung cấp hoa, rau tươi
cho Sài G̣n và các tỉnh Nam Bộ.
KINH TẾ
Đồng
bào cư ngụ trong tỉnh phần lớn là người Kinh, rồi
đến người Thượng gồm hai sắc tộc chính là K'ho (có
các sắc dân phụ là Mạ, Sré, Nop), và Roglai. Người
dân theo tôn giáo chính là Thiên Chúa, Phật, Cao Đài,
thờ phụng Tổ tiên và Thần linh.
Lâm Đồng trồng được hai thứ
lúa là lúa núi và lúa gieo. Các hoa màu phụ và trái
cây gặt hái khả quan là khoai ḿ, khoai lang, bắp,
ca cao, dâu nuôi tằm sầu riêng, bơ, mít cam, quít,
bưởi, chuối, đu đủ. Đu đủ và sầu riêng Lâm Đồng ngon
nổi tiếng. Hai loại cây kỹ nghệ được trồng có số
đáng kể là cà phê và trà. Loại trà và cà phê Bảo Lộc
thơm ngon nổi tiếng.
Gần ba phần tư diện tích
Lâm Đồng là rừng núi nên đă mang lại nhiều lâm sản
quí giá như các gỗ thông, dầu, sao, cẩm lai, bạch
tùng, cùi, nhựa thông và dầu thông. Chính v́ đồng cỏ
tươi tốt nên việc chăn nuôi có kết quả tốt. Ngược
lại, Lâm Đồng chưa thấy cókhoáng sản nào được khai
thác.
Những loại đ
àn
đá t́m thấy ở Lộc Lâm (huyện Bảo Lộc) và Klong (huyện
Lạc Dương) đă chứng minh truyền thống văn hóa lâu
đời của đồng bào ta ở đây. Đa số đồng bào sống ở Đà
Lạt là người Kinh, c̣n lại là người Thượng sắc tộc
Lat và Chill. Dân chúng theo đạo Phật, Thiên Chúa và
Cao Đài.
Nói đến nền kinh tế và
thương mại của Đà Lạt là phải nói đến ngành trồng
rau và trái cây. Đất ở đây không dùng vào việc trồng
lúa. Những loại hoa màu chính là sa-lát, bông cải,
cà rốt, khoai tây, tỏi tây, su hào, hành,... Ngoài
các loại rau, dân ta c̣n trồng nhiều vườn hoa để sản
xuất như hoa hồng, uất kim hương (Tulipe) huệ tây
(Lys), Lay-ơn (Glaieuf)...
Rừng Đà Lạt có nhiều loại
lan rất nổi tiếng. Về trái cây có mận tây, đ
ào,
hồng, bơ, dâu tây... Mận Trại Hầm rất ngon. Trước
1975, các loại cây hoa màu, cây ăn trái và hoa của
Đà Lạt được cung cấp đến thành phố Sài G̣n và các
tỉnh khác với số lượng rất lớn. Dân chúng c̣n làm
rượu mận phổ biến khắp nơi. khoáng sản chỉ có hầm đá
dùng để xây đường xá và cao lanh dùng làm đồ gốm.
LỊCH SỬ
Trước
đây Lâm Đồng là vùng rừng núi rậm rạp đầy sơn lâm
chướng khí, đầm lầy nước đọng, không ai sinh sống và
chỉ là vùng đồi núi hoang vu thuộc dăy núi Lâm Viên
(Lang Bian) cao 2.100 thước, có vài con đường nhỏ và
lác đác vài căn nhà của đồng bào Thượng. Cho đến khi
người Phù Nam bắt đầu chiếm vùng đồng bằng sông Cửu
Long th́ thổ dân nơi này rút về vùng Lâm Đồng khai
quang đất đai và thành lập tiểu quốc Mạ. Người Mạ
nổi tiếng khéo tay, chịu khó, biết trồng cây bông và
dệt vải.
Đến thế kỷ 17, chúa Nguyễn
Phúc Chu chiếm được Chân Lạp, cho Nguyễn Bữu Kinh
làm quan, th́ tiểu quốc người Mạ nhập chung vào nước
ta. Năm 1899, quân Pháp cử một phái đoàn nghiên cứu
địa chất do Emest Outrey dẫn đầu đến khảo sát vùng
Lâm Đồng và nghiên cứu mở con đường nối liền với
tỉnh B́nh Thuận. Trong cùng năm, vùng Lâm Đồng được
lập thành tỉnh lấy tên là Đồng Nai Thượng và Ernest
là Công sứ. Tỉnh lỵ mang tên Djiring.
Đến năm 1903. Tỉnh Đồng Nai
Thượng bị băi bỏ và
đất
này sát nhập vào B́nh Thuận. Năm 1920, tỉnh Đồng Nai
Thượng được tái lập với quận Djlring (Di Linh) Blao
(Bảo Lộc) và Dran Fyan (Đơn Dương). Tỉnh lỵ vẫn đặt
ỡ Di Linh.
"Đà Lạt" là tiếng phiên âm
của chữ "DaLat". "Da" có nghĩa sông; "Lat" là tên
của bộ lạc Thượng sống ở nơi đây. "Dalat" có nghĩa
là sông của người Lat (tức suối Cam Ly ngày nay).
Thời gian quân Pháp mới xâm
chiếm nước ta, vùng đất Đà Lạt thuộc quyền cai trị
của tù trưởng người Thượng tên Yagut đă nổi lên
chống quân Pháp. Sau này, dân chúng trong vùng nhớ
công ơn và
đặt
con đường mang tên ông.
Trong cuộc mở mang đất đai
về phía Nam của tổ tiên ta, vùng Đà Lạt được sát
nhập vào tỉnh Khánh Ḥa, nhưng việc khai thác miền
sơn cước chưa được triều đ́nh lưu ư đến. Cho đến khi
quân Pháp đô hộ nước ta, chúng cử phái đoàn Yer-sin
lên nghiên cứu vùng này vào năm 1897.
Sau những cuộc khảo sát đất
đai. Toàn quyền quân Pháp là Paul Doumer cho xây
dựng sở khí tượng và trung tâm thí ngiệm việc trồng
trọt vùng này, đồng thời mở một con đường từ miền
duyên hải Trung phần lên đến đây, Thị xă Đà Lạt bắt
đầu thành h́nh nhưng sinh hoạt c̣n kém. Năm 1915,
toàn quyền Doumer mở mang thêm. Đến năm 1923,Toàn
quyền Maurice Long được lệnh mở rộng thị xă và giao
cho kiến trúc sư Pháp là Hebrard soạn đồ án để biến
Đà Lạt thành một thủ đô Liên Bang Đông Dương.
DI TÍCH
Các Dinh Thự:
Đà Lạt có ba dinh thự lộng
lẫy mà mọi người quen gọi vắn tắt là Dinh 1, Dinh 2
và Dinh 3. Các dinh thự này đều được kiến trúc theo
kiểu Pháp và xây trên các ngọn đồi thoai thoải ở
những vị trí đẹp và nên thơ. Nếu đi bộ lên dinh, du
khách sẽ đi theo các bậc thang xây. Ô tô th́ đi theo
đường dốc thoai thoải lên tận nơi. Du khách sẽ đi
dạo dưới những tán thông và nghe tiếng ŕ rào êm tai
của lá. Dinh 2 nằm trên đồi, cách trung tâm thành
phố Đà Lạt khoảng 2 km (1 miles), nơi cắt của hai
đường Trần Hưng Đạo và
đường
Khởi Nghĩa Bắc Sơn. Dinh 2 trước kia là dinh Toàn
quyền Pháp, c̣n bây giờ được sử dụng làm nhà khách.
Dinh được xây dựng năm 1933 gồm 25 pḥng, đồ đạc
trong pḥng vẫn được giữ nguyên như xưa. Dinh 3 của
vua Bảo Đại, ông vua cuối cùng của triều Nguyễn. Du
khách đến tham quan Dinh 3 sẽ được xem cách bài trí
của một gia đ́nh hoàng tộc, xem ảnh vua Bảo Đại và
hoàng hậu Nam Phương cùng các hoàng tử, công chúa.
Dinh 3 c̣n gọi là biệt thự nghỉ hè của vua Bảo Đại (sau
này c̣n gọi là Biệt Điện Quốc Trưởng) gồm có 25
pḥng, được xây dựng năm 1933. Đến nay dinh 3 c̣n
được giữ gần như nguyên vẹn. Dinh 3 nằm trên một đồi
thông, cách viện Pasteur 500 m (1,500 ft) về hướng
Đông Nam, trên đường Lê Hồng Phong cách trung tâm
thành phố 2 km (1 miles).
Chùa Linh Sơn:
Nằm trên một quả đồi, cách
trung tâm thành phố Đà Lạt 700 m (2,100 ft) trên
đường Nguyễn Văn Trỗi, chùa được dựng vào năm 1938
trong một khuôn viên rộng và trải qua nhiều đời sư
trụ tŕ. Ḥa Thượng Thích Từ Mẫn trụ tŕ chùa từ năm
1964 đến nay. Ở chính điện thờ đức Phật Thích Ca làm
bằng đồng, nặng 1.25 tấn, đúc năm 1952. Ngoài ra
chùa c̣n có pḥng phát hành kinh sách và hàng lưu
niệm.
Chùa Linh Phong (Chùa Sư
Nữ): Chùa tọa lạc ở
đường Hoàng Hoa Thám, thành phố Đà Lạt. Chùa ở trong
một khuôn viên rộng và
đẹp.
Chùa được dựng năm 1944. Sau đó sư bà Thích Nữ Từ
Hương đă xây dựng thành ngôi Ni Tự. Trong chùa chỉ
toàn sư nữ tu. Chánh điện thờ đức phật A-Di-Đà, hai
bên thờ Bồ Tát Quan Thế Âm và Bồ Tát Đại Thế Chí,
tượng được làm bằng đồng.
Chùa Linh Quang:
Chùa tọa lạc ở số133
đường Hai Bà Trưng, Đà Lạt. Chùa do ḥa thượng Thích
Nhân Thứ tạo lập năm 1931, sau đó được các Ḥa
thượng kế tiếp trùng tu, đặc biệt là vào các năm
1958 và 1972 dưới thời ḥa thượng Thích Minh Cảnh
trụ tŕ, chùa đă được sửa cho lớn. Ở các góc mái
chùa đắp nổi h́nh chim phượng rất cầu kỳ và tinh xảo
trong khuôn viên chùa có khu vườn tháp mộ. Chùa Linh
Quang là ngôi tổ đ́nh đầu tiên tại thành phố Đà Lạt.
Chùa Thiên Vương Cổ Sát
(Chùa Phật Trầm, Chùa Tàu):
Đây là một địa danh quen thuộc
đối với khách du lịch, đặc biệt là khách Trung Quốc.
Chùa
tọa lạc trên đồi thông, tại số 385 đường Khe Sanh,
cách trung tâm thành phố Đà Lạt khoảng 5 km (3
miles). Chùa được ḥa thượng Thọ Dă (người của Hội
quán Trung Hoa) xây dựng vào năm 1958. Đến năm 1989,
ông Lê Văn Cảnh đứng ra tổ chức trùng tu. Chùa Thiên
Vương c̣n được gọi là chùa Tàu, theo hệ phái Phật
giáo Huê Nghiêm của Trung Quốc. Ngôi chùa gồm ba ṭa
nhà màu vàng. Ở Minh Quang bảo điện thờ Tây Phương
Tam Thánh: Phật Thích Ca, Quan Âm Bồ Tát và Đại Thế
Chí Bồ Tát. Mỗi tượng cao 4 m (12 ft), nặng 1,5 tấn,
được ḥa thượng Thọ Dă đặt từ Hồng Kông đem về năm
1958. Trong chùa có các tượng Tứ Thiên Vương to lớn
và cao 2,60 m (7.80 ft) đúc bằng xi măng.
Thiền Viện Trúc Lâm:
Tọa lạc bên hồ Tuyền
Lâm, phường 3, thành phố
Đà
Lạt trong một khung cảnh thiên nhiên thoáng đăng,
nên thơ. thiền viện được khởi công xây dựng vào ngày
28-5-1983 trên một khu đất rộng 25 ha, bao gồm 2ha
xây dựng thiền viện 23 ha vườn chùa. Thiền viện được
khánh thành vào ngày 19-3-1994. Vị viện chủ tạo dựng
nên thiền viện là ḥa thượng Thích Thanh Từ, đồng
thời là viện chủ thiền viện Thường Chiếu ở Đồng Nai.
Ga Đà Lạt:
Nằm về phía Đông, cách Hồ Xuân
Hương khoảng 500 m (1,500 ft) là ga xe lửa Đà Lạt.
Mặc dù ngày nay người ta không sử dụng được đường
sắt lên Đà Lạt, song ga Đà Lạt vẫn là một điểm tham
quan thú vị dành cho du khách mỗi khi đến đây. Đoạn
đường sắt nối Đà Lạt với Tháp Chàm (Phan Rang) được
khởi công xây dựng từ năm 1915, dài 84 km (52 miles)
và vận chuyển từ năm 1928 đến năm 1964. Sau đó th́
ngừng hoạt động do chiến tranh. Ngày nay, một đoạn
đường 8 km trong thành phố đă được khôi phục để đưa
khách du lịch đi thăm làng dân tộc Trại Mát.
LỄ HỘI
Đà
Lạt mang đậm trong ḿnh bản sắc văn hóa Tây Nguyên
đẹp như huyền thoại. Đến đây, du khách sẽ có dịp
thăm các buôn làng của dân tộc ít người như M’nông,
Mạ, C'Ho... những người dân hiền lành sống bằng nghề
làm rẫy, làm vườn, trồng cà phê,cacao, chè, chăn
nuôi gia súc, gia cầm... Vào những ngày hội làng,
ngày vui của gia đ́nh, du khách sẽ được xem họ múa,
hát, chơi nhạc bằng những nhạc cụ độc đáo mà âm
thanh của nó nghe như tiếng gió hú, tiếng thác chảy
trên ghềnh đá.
Lễ Hội Ăn Trâu (Dân Tộc
Cơ Ho ): Lễ hội
được tổ chức rất linh đ́nh thường là sau khi thu
hoạch xong mùa màng, chuẩn bị vào mùa rẫy mới. Trong
các nghi lễ này, người C'Ho dùng nhiều nhạc cụ cổ
truyền. Bên bếp lửa và chén rượu cần, già làng kể
cho con cháu nghe nhiều sự tích, truyền thuyết huyền
thoại, giảng giải thơ, ca dao, giảng giải về ṇi
giống và quê hương đất nước.
Lễ Cúng Thần Suối (Dân
Tộc Mạ): Người Mạ
tin vào các thần: Trời là thần tối cao, thần Sông,
thần Núi, thần Hỏa... trong đó nghi lễ cúng thần
suối của người Mạ mang nhiều sắc thái tín ngưỡng dân
gian.
Lễ Cúng Thần Bơ Mung (Dân
Tộc Chu Ru): Đây là
nghi lễ lớn nhất của người Chu Ru, thường được tổ
chức vào tháng 2 âm lịch. Nghi lễ này gắn liền với
các nghi lễ nông nghiệp như cúng thần Đập Nước, thần
Mương Nước, thần Lúa, ăn mừng lúa mới...
Tết Mạ K’Ho - Lễ Cúng
Cơm Mới: Đây mới là
một trong những lễ hội truyền thống của người Mạ,
K’Ho tại B’Lao, thị xă Bảo Lộc. Ngày lễ này gần như
trùng với Tết Nguyên Đán của người Việt. Họ làm lễ
để cầu mưa thuận gió ḥa, ngăn thú rừng không cho
chúng phá nương, phá rẫy. Cúng lúa mới, cơm mới cũng
là
để
con cháu biết quí hạt thóc, hạt gạo. Lễ cúng gồm có:
gạo thơm mới, chén rượu cần, gà trống gị, heo đực
thiến và các loại thú rừng bẫy được.
Lễ hội bắt đầu bằng việc khấn Giàng của Thầy cúng,
kế đến là tục vẩy rượu để chúc mọi người. Cuối cùng
là uống rượu, hát t́nh ca, trường ca và tâm phớt (dân
ca Mạ, K’Ho) trong tiếng cồng chiên rộn ră. Lễ hội
kéo dài suốt đ
êm
cho đến sáng hôm sau.