Dak Lak
ĐỊA LƯ
Diện
tích: 19.800 km2.
Dân số (2004): 1.958.712 người.
Tỉnh lỵ: thành phố Buôn Ma Thuột.
Các huyện: Ea H'leo, Ea Súp, Krông Năng, Krông Búk,
Buôn Đôn, Cư M'gar, Ea Kar, M'Đrắc, Krong Pắc, Cư
Jút, Krông Ana, Krông Bông, Đắk Mil, Krông Nô, Lắk,
Đắk R'Lấp, Đắk Nông, Đăk Soong.
Dân tộc: Việt (Kinh), Êđ
ê,
M'Nông, Nùng, Tày, Gia Rai...
Tỉnh Đắk Lắk nằm trên cao
nguyên Đắk Lắk, một trong ba cao nguyên lớn của Tây
Nguyên, độ cao trung b́nh từ 400 - 800 m (1,200 -
2,400 ft) so với mặt biển, phía Bắc giáp Gia Lai,
phía Nam giáp Lâm Đồng và B́nh Phước, phía Tây giáp
Campuchia, phía Đông giáp Phú Yên và Khánh Ḥa.
Đắk Lắk là tỉnh có diện
tích tự nhiên lớn nhất nước. Vùng núi cao từ 1.000 -
1.200m (3,000 - 3,600 ft) chiếm 35% diện tích của
tỉnh. Vùng cao nguyên Buôn Ma Thuột cao 450m (1,350
ft), chiếm 53,5%, đất đỏ màu mỡ, khá bằng phẳng
thuận lợi cho phát triển cây công nghiệp dài ngày,
chăn nuôi gia súc và trồng rừng. Ngoài ra c̣n có đất
trũng phù sa (12%) trồng lúa vàđồng cỏ tự nhiên.
Rừng Đắk Lắk có trữ lượng
gỗ dồi dào và nhiều động vật quí hiếm đặc biệt là
đ
àn
voi hơn 300 con tập trung ở các huyện Buôn Đôn, Ea
Súp, Lắc, Đắk Mil. Đắk Lắk có hàng trăm đồn điền cà
phê, cao su, ca cao, chè, hồ tiêu, mía... Đắk Lắk có
3 hệ thống sông chính: sông Ba, sông Pê Sê Pôk và
sông Đồng Nai.
Thị xă Buôn Ma Thuộc ở giữa
vùng đông dân nhất Tây Nguyên. Thị xă ở độ cao 536 m
(1,608 ft). Khu vực này có đông đồng bào Êđ
ê.
Buôn Ma Thuộc cách Hà Nội 1.410 km (881 miles), cách
Sài G̣n 628 km (393 miles). Giao thông phía Bắc thị
xă có đường 14 đi Pleiku (195 km (122 miles)), đi
Kon Tum (244 km (153 miles)), nối với Đà Nẵng và qua
B́nh Phước, B́nh Dương đến Sài G̣n. Phía Nam thị xă
có đường 26 đi Ninh Ḥa, Nha Trang (156 km (98
miles)); phía Tây là
đường
đi Bản Đôn (42 km (miles)); phía Đông là
đường
quốc lộ 27 đi Đà Lạt (193 km (26 miles)).
Đến Đắk Lắk du khách có thể
đi thăm hàng chục ngọn thác hùng vĩ như thác Drây
Sap, Diệu Thanh, Gia Long,... những hồ nước đẹp và
thơ mộng như hồ Lắk, hồ Buôn Triết, hồ Ea Kao; các
khu rừng nguyên sinh - vườn quốc gia Yok Dôn, khu
lâm viên Ea Kao, thăm Buôn Đôn nổi tiếng với nghề
săn bắt và thuần dưỡng voi, các di tích lịch sử như
tháp chàm thế kỷ 13, biệt điện của cựu hoàng Bảo Đại,
hoặc t́m hiểu đời sống văn hóa các dân tộc ít người.
THẮNG CẢNH
Thác Đ'ray Sap:
Thác ở cách thị xă Buôn Ma
Thuộc 30 km. Theo tiếng Êđ
ê,
Đ'ray Sap nghĩa là thác khói. Bởi lẽ ḍng nước từ
trên cao đổ xuống thung lung ào ào tạo thành khói
lớn, bụi nước bay là là như màu khói. Quanh năm suốt
tháng cả một vùng vang vọng tiếng thác và ngập trong
khói nước. Thác Đ'ray Sap là một thắng cảnh đẹp nhờ
sự kết hợp giữa hai ḍng sông Krông Knô và Krông Ana
mà người Êđ
ê
và người M'nông gọi là sông Chồng, sông Vợ gặp nhau
mà thành. T́nh yêu của họ mạnh mẽ như ḍng thác, đẹp
đẽ như sắc cầu ṿng ẩn hiện trong làn sương khói
nước. Đ'ray Sap như một bức thành nước khổng lồ,
hùng tráng giữa một vùng hoa nước long lanh.
Băi Đá Sông Krông Bông:
Ở huyện Krông Bông có thác
Krông Bông nổi tiếng đẹp. Trên đường đi đến thác
giữa ḍng sông có một băi đá đặc biệt hấp dẫn đối
với du khách, nhất là khách nước ngoài mỗi khi đi
qua đây. Đó là một băi đá với những tảng đá có h́nh
thù, kích thước và màu sắc như những con voi khổng
lồ, khiến cho du khách ngỡ như nh́n thấy một đ
àn
voi đang vượt sông trong khu vực núi rừng Tây Nguyên.
Thác Nước ở Đắk Nông:
Nằm trên quốc lộ 14 cách thành
phố Buôn Ma Thuộc khoảng 120 km (75 miles) về hướng
Tây - Nam và cách Sài G̣n 230 km (144 miles), thị
trấn Gia Nghĩa (huyện Đắk Nông) là
điểm
dừng chân của du khách từ Sài G̣n lên Buôn Ma Thuộc
và ngược lại. Cách thị trấn Gia Nghĩa từ 7 - 8 km (4
- 5 miles) có các thác nước.
Thác Diệu Thanh hùng vĩ gồm
cụm ba thác: cụm thác chính lớn nhất cao 15 m (45
ft) giữa sông, cụm thứ hai phía bên phải và cụm thứ
ba phía dưới thác chính. Nước réo quanh năm tung bọt
trắng xóa. Hai bên bờ sông là những băi đất bằng
phẳng có nhiều cây xanh tỏa bóng mát. Phía Tây thị
trấn Gia Nghĩa là thác Ba Tầng. Trong khoảng 40 m
(120 ft) có ba thác liền nhau, nước phải chảy qua ba
lần thác mới đến đáy suối.
Thác Thủy Điện cách cầu Đắk Nông khoảng 7 km (4
miles) về phía hạ lưu. Thác cao 25 m (75 ft), nước
đổ thành "ḍng nhạt" và "ḍng đậm". Về mùa khô nước
cạn có đường đi phía sau thác giống thác Prenn (Đà
Lạt). Ngoài ba thác trên c̣n có thác Đắk Nông gần
cầu Đaktit cũng có vẻ đẹp thơ mộng hiền ḥa. Đắk
Nông c̣n có đồi thông ở Nam Nung, cao nguyên Jubát ở
Quảng Sơn, rừng nguyên sinh, hồ nước trong, băi cát
bằng phẳng ở Trảng Ba... là
điểm
du lịch sinh thái dành cho du khách yêu thiên nhiên.
Vườn Quốc Gia Yok Đôn:
Yok Đôn là một trong những
khu bảo tồn tự nhiên lớn nhất của Việt Nam, trên một
diện tích 58.200 ha dọc theo con sông Sêrêpóc. Đây
là nới cư trú của 62 loài động vật có vú, 196 loài
chim, 40 loài ḅ sát, 13 loài lưỡng cư và 464 giống
thực vật. Trong số 56 loài động vật hiếm thống kê
được
ở Đông Dương th́ 38 loài có ở Yok Đôn. Yok Đôn nằm
lọt vào giữa ba xă Krôngna, Eahuar và Eavel, khu vực
sinh sống của các dân tộc ít người Êđ
ê,
Gia Rai, M'nông.
KINH TẾ
Đaklak
có một vùng đồng bằng màu mỡ nhưng v́ thiếu nước
canh tác nên chỉ làm được một vụ mùa. Các hoa màu
phụ là ngô, khoai, sắn, lạc và trồng các cây kỹ nghệ
như cà phê, cao su, keenaf. Cà phê Ban Mê Thuộc rất
nổi tiếng. Rừng Daklak có nhiều lâm sản quí, nhất là
các thứ gỗ và có đủ loại cầm thú. Riêng voi và cọp
khá nhiều. Voi giúp thay thế sức kéo của dân chúng
và cho một số xe vận tải chuyên chở nhiều đồ nặng.
Mai rừng Daklak nhiều và
đẹp
vô cùng.
Nghề đánh cá hoạt động trên
sông Krong Ana, Krong Kno và các hồ trong tỉnh, đặc
biệt là những hồ thuộc quận Lạc Thiện. Dân chúng c̣n
chuộng nghề nuôi cá chép, cá phi.
Khoáng sản trong tỉnh rất
hiếm, chưa t́m ra quặng mỏ nào, ngoại trừ những hầm
đá vôi ở các buôn Eatung, Ea Mirac, Ea Runol,... và
đất
sét ở các buôn Ea Ebu, Ea Tur, Buôn Kia... Nhà máy
thủy điện tại thác Draying có khả năng cung cấp điện
cho toàn thành phố Buôn Mê Thuộc và các vùng phụ cận.
LỊCH SỬ
Tên
"Đắk Lắk" nguyên là chữ "Dak Lak" thổ ngữ của sắc
tộc M'nông. "Dak" có nghĩa là nước, "Lak" là "hồ
nước", quân Pháp đổi thành "Darlac" trong thời gian
chiếm đóng vùng này.
Dân chúng thường quen gọi
tên tỉnh này là Buôn Mê Thuột hơn là Daklak. Theo
truyền tụng, Buôn Mê Thuột trước có tên là "Buôn Ma
Thuốt", thổ ngữ của sắc tộc Rhadé. "Buôn" là làng,
ấp. "Ma" là cha. "Thuốt" là tên con của vị tù trưởng
Êdê, ngày xưa đă lănh đạo dân chúng chống lại những
người Cam Bốt và Ai Lao thường tràn qua biên giới
cướp phá. V́ vậy, "Buôn Ma Thuốt" được đặt tên để
tưởng nhớ vị tù trưởng anh hùng tên Thuốt.
Daklak và Buôn Mê Thuột
thuộc lănh thổ Việt Nam từ trước thế kỷ thứ 14,
nhưng chưa được triều đ́nh quan tâm, v́ thế chưa có
cơ cấu hành chính tại đây. Sau khi quân Pháp đô hộ
nước ta, chúng sát nhập Daklak vào nước Lào. Đến
ngày 22-11-1904, Pháp lại đặt đất này thuộc Việt Nam
và
được
sáp nhập vào Kontum.
Nhưng đồng bào ta không
khuất phục quân thù. Năm 1893 quân Yersin tiến chiếm
DakLak. Ba Tù trưởng Y Thu, M'Trang (bộ tộc Bih vùng
Buôn Mblot) và Ama Jhao (bộ tộc Ktul) liền tập họp
các dân làng Rhadé và M'nong đánh thực dân, đă khiến
chúng phải chật vật, hao tổn nhiều nhân lực khi lên
tới vùng Buôn Mê Thuột. Dân ta dựa núi rừng làm
chiến khu, lấy dáo mác, cung tên làm vũ khí. Nhiều
trận đánh ác liệt đă xảy ra tại khu rừng Bandon. Sau
hai tù trưởng M'Trang và Ama Jhao sa vào tay giặc và
bị giết.
Năm 1894, hai toán quân
Pháp theo thung lũng sông Ba và sông Năng đến DakLak
để tăng cường kế hoạch "b́nh định", bị đồng bào
M'dhur chặn đánh nên phải rút về đồng bằng. Năm
1899, giặc xây xong căn cứ quân sự tại Bandon và cho
tên Bourgoois mang quân đ
àn
áp đồng bào Rhadé Kpa. Năm 1900, tên này lại đến
chiếm buôn làng của đồng bào Bih, chuyên sống về
nghề nông ở dọc theo hạ lưu sông Krong Ana và Krong
Kno, nhưng bị tù trưởng Ngenh chống cự, rồi sau đó
kêu dân trốn vào rừng, không để giặc cai trị.
Đến năm 1923, tỉnh DakLak
được thành lập và
đặt
dưới sự cai quản của viên Công sứ quân Pháp tên
Sabatier. V́ tham danh lợi, sau khi nhận chức tên
công sứ này ngăn cấm không cho người Kinh lập nghiệp
ở đây và cũng t́m cách ngăn chặn không cho các nhà
tư bản Pháp đến lập đồn điền, để dễ dàng bóc lột
đồng bào Thượng và măi măi là vua một cơi. Nhưng rồi
y cũng bị doanh thương Pháp mua chuộc cấp trên
chuyển đi nơi khác.
Dù rằng lệnh cấm này được
băi bỏ vào năm 1930, nhưng người Kinh nào muốn đến
DakLak đều phải xin giấy phép hết sức khó khăn. Vào
năm 1930, những cuộc nổi dậy của đồng bào ta ở miền
Bắc và Nghệ An đă làm quân Pháp lo sợ, chúng liền
cho xây một trại giam tù chính trị ở Buôn Mê Thuột
và thành lập Tiểu đoàn Sơn cước để bảo vệ nơi này.
Trước năm 1975, DakLak có bốn quận lớn là Buôn Mê
Thuột, Lạc Thiện, Phước An và Buôn Hồ.
DI TÍCH
Chùa Khải Đoan:
Là ngôi chùa của những
người Việt sinh sống ở Đắk Lắk. Chùa được xây dựng
năm 1951 - 1953 trên một khu đất thoáng rộng 89A
đường Phan Bội Châu, phường Thống Nhất, thị xă Buôn
Ma Thuột. Chùa có kiến trúc theo kiểu chữ tam, trước
cổng là tam quan, giữa là chính điện, sau là hậu tổ.
Cổng tam quan gồm hai tầng với ba ṿm cửa cao 7 m
(21 ft), rộng 10,5 m (31.5 ft). Điện Quan Âm xây
tách biệt với bố cục chính của chùa, h́nh lục giác
với 6 cột trang trí h́nh rồng mây. Chính điện gồm
hai phần, phần trước kiến trúc theo kiểu nhà dài của
Tây Nguyên có cộ kèo nhà rường của ngườiViệt. Nửa
sau xây theo lối hiện đại. Chính điện thờ Phật Thích
Ca. Chùa có quả chuông nặng 380 kg bằng đồng đúc năm
1954.
Tháp Yang Prong:
Là ngôi tháp cổ Chămpa
duy nhất hiện c̣n ở Tây Nguyên, tháp nằm trong khu
vực Bản Đôn, huyện Ea Súp, bên ḍng sông Ea Leo.
Tháp c̣n có tên là Tháp Chàm Rừng Xanh thờ thần Siva
dưới dạng Mukhalinga (vị thần vĩ đại). Tháp có đáy
vuông, đỉnh nhọn như củ hành khá đặc biệt, khác với
các kiến trúc các tháp Chăm thường thấy ở các nơi
khác. Tháp Yang Prông là một di tích văn hóa có giá
trị ở Tây Nguyên.
Buôn Đôn:
Là quê hương của những người
săn bắt và thuần dưỡng voi có một không hai của vùng
Đông Nam Á. Buôn Đôn thuộc xă Krông Ana, huyện Buôn
Đôn, cách thành phố Buôn Ma Thuộc 50 km (31 miles).
Buôn Đôn là một bản làng xinh đẹp, với những ngôi
nhà sàn của những người M'nông, Êđ
ê,
Gia Rai, Khmer và Lào, nằm bên ḍng sông Krông Ana,
một nhánh rộng của ḍng sông Sêrêpốc. Đây là một bản
làng định canh, định cư từ hơn 100 năm trước và là
chợ mua bán voi sầm uất và thịnh vượng của ba nước
Đông Dương. Nơi đây có những ngôi nhà gỗ to lớn,
được chạm khắc tinh xảo, cầu kỳ, xen lẫn ngôi nhà
sàn sơn đỏ, mộc mạc.
Đến Buôn Đôn, du khách sẽ được gặp ông Y Prông E
Ban, một dũng sĩ săn bắt và thuần dưỡng voi nổi
tiếng, người đă đạt kỷ lục săn bắt và thuần dưỡng
hơn100 con voi rừng. Ông sống trong một ngôi nhà nằm
sát ḍng sông Krông Ana, thiết kế theo lối kiến trúc
dân tộc Lào. Nhà
được
làm từ một loại gỗ quí v́ thế nó có giá trị tương
đương với chục con voi tốt thời bấy giờ. Quay mặt ra
phía ḍng sông Sêrêpốc có một ngôi mộ bề thế, mộ của
vua voi Y Thu. Ông Y Thu đă từng săn bắt, thuần
dưỡng 180 con voi. Buôn Đôn hiện tại c̣n khoảng 40
con voi nhà. Khi đến Buôn Đôn, du khách c̣n có thể
du ngoạn một chuyến trên ḍng sông Sêrêpốc đi bằng
voi, men theo bờ ra giữa cù lao để chiêm ngưỡng sự
kỳ diệu của thác bảy nhánh, hoặc vào rừng quốc gia
Yook Đôn để tham quan chim thú, cây rừng.
Hồ Lắk Và Biệt Điện Bảo
Đại: Hồ Lắk nằm
trên tuyến đường giao thông giữa Buôn Ma Thuộc và Đà
Lạt, cách Buôn Ma Thuộc khoảng 56 km (35 miles) về
phía Nam theo quốc lộ 27, qua đ
èo
Lạc Thiện 10 km (6 miles) đến thị trấn Lạc Thiện rẽ
tay phải vài trăm mét đă thấy ngôi nhà nghỉ mát của
cựu hoàng đế Bảo Đại ngày xưa.
Đây là nơi ông thường đến ngắm cảnh, săn bắn, nghỉ
ngơi mỗi khi có dịp lên thành phố Buôn Ma Thuộc.
Ngôi nhà nằm trên đỉnh đồi cao nh́n ra mặt nước của
hồ Lắk. Hồ Lắk dài uốn khúc hệt như một dải lụa
thiên thanh bao bọc lấy thị trấn Lạc Thiện. Hồ rộng
trên 500 ha, được thông với con sông Kơ Rông Ana.
Mặt hồ luôn xanh thắm in bóng rừng thông trên các
ngọn đồi ven hồ. Xung quanh hồ là các cánh rừng
nguyên sinh rộng lớn với hệ động thực vật phong phú.
Về mùa mưa, hàng trăm con suối, ngọn thác đổ nước về
làm cho mặt hồ rộng thêm, sóng cồn lên như biển và
dâng ngập hết cả các cánh đồng cỏ xung quanh.
Ra xa, nước sâu hơn là nơi ngự trị của các loài
sen, súng. Sen ở hồ Lắk đẹp, che kín một dải dài
trên mặt nước làm cho cảnh hồ thêm thơ mộng. Hồ Lắk
là một thắng cảnh đẹp của vùng Tây Nguyên. Hồ vừa là
nơi cung cấp nhiều cá, vừa là hồ chứa nước ngọt
khổng lồ cung cấp nước cho hàng trăm ha ruộng nương,
đồng thời c̣n làm cho khí hậu ở đây thêm phần mát
hơn. Bên hồ Lắk có bản Jun, một buôn làng tiêu biểu
của dân tộc M'nông. Đến đây du khách có dịp ngao du
trên lưng voi để ngắm buôn làng, tham quan núi rừng
Tây Nguyên.
LỄ HỘI
Hội Đua Voi Tây Nguyên:
Lễ hội thường diễn ra
vào mùa Xuân, khoảng tháng 3 âm lịch (vùng dân tộc
M´nông, Êđe, Lào). Hội đua voi thường được tổ chức ở
Buôn Đôn hoặc cánh rừng thưa ven sông Sêrêpốc. Băi
đua là một dăi đất tương đối bằng phẳng thường là
khu rừng lớn có ít cây to đủ để 10 con voi giăng
hàng đi cùng một lúc, chiều dài từ 1 - 2 km (0,6 -
1,2 miles).
Một hồi tù rút lên, theo lệnh điều khiển từng tốp
voi đứng vào vị trí xuất phát. Khi có lệnh xuất phát
th́ những chú voi phóng về phía trước, cùng với
tiếng chiêng, tiếng trống, tiếng ḥ reo cổ vũ âm
vang cả núi rừng. Khi cuộc đua kết thúc, những chú
voi được giải, giơ cao chiếc ṿi vẫy chào mọi người
rồi ngoan ngoăn bước đi ung dung, đôi tai phe phẩy.
Ngày hội đua voi là ngày vui lớn ở Tây Nguyên, nó
phản ánh tinh thần thượng vơ của người M'nông, một
dân tộc đầy đức tính dũng cảm có kinh nghiệm trong
những cuộc săn bắt voi rừng.
Hội Xuân:
Kéo dài chừng từ 2 đến 3
tháng, từ ngày đưa lúa vào kho đến ngày sấm rang đầu
mùa. Đó là thời gian tạm dừng việc sản xuất để tham
gia hội hè và thăm bạn bè. Buôn làng được sửa sang
khang trang. Sóc (làng) nọ tiếp sóc kia, buôn nọ
tiếp buôn kia mở hội đâm trâu. Đâm trâu cúng thần
làng, đâm trâu xin thần phù hộ cho từng sóc, đâm
trâu nhân lễ bỏ mả để hồn trâu theo người đă khuất
về thế giới bên kia. Khách được xem những hội lễ với
những tṛ vui diễn lại tích xưa từ thời Đông Sơn
được tham dự những điệu múa, lời ca quyện tiếng
cồng, chiên bi hùng của những con người nơi rừng
núi. Người dân ở đây rất hiếu khách, đón tiếp khách
rất ân cần nồng hậu và
đầy
t́nh nhân ái. Hội kéo dài từ tháng 10, tháng 11 đến
tháng giêng, tháng hai âm lịch hàng năm.
Lễ Lớn Khôn (MPUH):
Lễ lớn khôn của dân
tộc Êđe. Lễ kéo dài hai ngày hai đ
êm
để xác nhận chàng trai Êđ
ê
đă
đến tuổi trưởng thành. Lễ tổ chức ở các suối nước,
trên đường và tại nhà của chàng trai. Nhiều nghi lễ
dân tộc được tiến hành cùng với sinh hoạt văn hóa kể
chuyện dân gian.
Ngoài các lễ hội kể trên, Đắk Lắk c̣n có các lễ hội
khác như lễ Ăn Trâu, lễ cúng cơm mới, lễ Bỏ Mả như
của các tỉnh bạn trên đất Tây Nguyên.