Bình Định
ĐỊA LÝ
Diện
tích: 6.076 km2.
Dân số (2004): 1.536.154 người.
Tỉnh lỵ: Thành phố Qui Nhơn.
Các huyện: An Lão, Hoài An, Hoài Nhơn, Phù Mỹ, Phù
Cát, Vĩnh Thạnh, Tây Sơn, Vân Canh, An Nhơn, Tuy
Phước.
Dân tộc: Việt (Kinh), Chăm, Bana...
Là một tỉnh duyên hải miền Trung, phía Bắc giáp
Quảng Ngãi, Tây giáp Gia Lai, Nam giáp Phú Yên, Đông
giáp biển Đông. Địa hình Bình Định đa dạng có vùng
núi, vùng giáp núi, vùng đồng bằng và vùng bãi bồi
ven biển. Bờ biển Bình Định dài hơn 100 km (63
miles) với nhiều đảo lớn, nhỏ ngoài khơi. Tỉnh có
suối nước khoáng ở huyện Phù Cát.

Bình Định cũng bị bao phủ
bởi dãy Trường Sơn về phía Tây, có các nhánh núi đâm
ra biển khiến địa thế trở nên hiểm trở. Các dãy núi
trùng điệp nhưng không cao lắm, thoai thoải dần về
phía Đông:
Dãy
Thạch Tấn ngăn Bình Định với Quảng Ngãi, hai tỉnh
thông nhau nhờ đ
èo
Bình Đê. Trong dãy này có ngọn Thạc Tấn, nơi giao
tranh của quân Nguyễn Ánh và Tây Sơn trước đây.
Xuống phía Nam, dãy Trường Sơn chia làm nhiều nhánh,
gồm những ngọn núi không cao lắm, đây là nơi cư ngụ
của đồng bào Thượng.
Dãy An
Lão có các ngọn núi Cheu cao 952 m (2,856 ft), Teup
cao 960 m (2,880 ft), Yon cao 960 m (2,880 ft).
Dãy Kinh
Sơn nằm trong quận Hoài Ân bao gồm những ngọn núi
cao khoảng 500 m (1,500 ft) và
đỉnh
Kim Sơn cao 800 m (2,400 ft).
Dãy Vinh
Thạnh nối với dãy Kim Sơn bởi đ
èo
Giốc Đót, có những ngọn núi cao với địa thế hiểm trở
như hòn Bong, hòn Heo và hòn Chuông.
Dãy
Triều Châu là phần cuối của dãy Vinh Thạnh, phủ toàn
cát trắng, được định làm ranh giới giữa Bình Định và
Pleiku bởi đ
èo
Măng Giang (Mang Yang). Dãy Triều Châu còn gọi là
dãy Tây Sơn vì là nơi tụ binh của anh em nhà Tây Sơn
trước đây. Trong quận An Túc có các đỉnh Konlak cao
1.720 m (5,169 ft) và Kon Bonia cao 1.568 m (4,704
ft).
Dãy Nam
Sơn (còn gọi là vùng núi Binh Sau), có các hòn Ông,
hòn Bà, núi Am và hòn An Tượng. Dãy này ngăn chia
Bình Định với Phú Yên, hai tỉnh này thông nhau bởi đ
èo
Cù Mông. Trong quận Phú Cát có núi Bà cao 1.100 m
(3,300 ft).
Các sông trong tỉnh đều
xuất phát từ dãy Trường Sơn, gồm ba sông lớn là Lại
Giang, sông Côn và sông Ba:
Sông Lại
Giang (còn gọi là Lại Dương), có hai nguồn: nguồn An
Lão chảy theo hướng Nam gặp nguồn Kim Sơn ở Phú Văn.
Nguồn Kim Sơn có nhiều nguồn nước hợp nhau ở Xuân
Sơn tạo thành. Rồi chảy theo hướng Đông - Bắc, gặp
nguồn An Lão tại Phú Văn. Tại Phú Văn, hai nguồn
trên hợp lại thành sông Lại Giang chảy ra biển qua
cửa An Giũ.
Sông Ba,
phát nguồn từ vùng núi ranh giới phía Tây - Bắc của
Bình Định với hai tỉnh Kontum và Quảng Ngãi, rồi
chảy dọc theo hướng Bắc - Nam qua các tỉnh Phú Bồn
và Phú Yên. Sông ba có một số phụ lưu lớn như sông
Dak Katung, sông Dak Pokor...
Sông Côn
lớn và là sông quan trọng nhất tỉnh, dài 35 km (22
miles), cũng phát nguồn từ vùng núi biên giới của ba
tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định và Kontum. Từ nguồn đến
Định Quang, sông chảy theo hướng Bắc - Nam và
được
gọi là suối Kron vì hẹp và ít nước. Từ Định Quang
xuống Thượng Giang, sông được gọi là Hà Giao. Từ Hữu
Giang và Tả Giang ra đến cửa biển, sông mới chính
thức gọi là sông Côn. Từ Phú Phong đến An Thái, sông
chảy theo hướng Tây - Đông và chia làm hai nhánh
sông Bắc Phái và Nam Phái, hai nhánh này đều đổ ra
cửa Thị Nại. Phụ lưu quan trọng nhất là sông Đá Hàng
giúp cho sông Côn mở rộng ra, lượng nước dồi dào
thêm.
Ngoài ra, sông La Tinh cũng đáng kể, phát sinh từ
Hội Sơn thuộc quận Phú Mỹ. Từ nguồn đến Vạn Ninh,
sông tiếp nhận nhiều nguồn nước suối từ các ngọn núi
và cũng tại đây tách làm hai nhánh là sông Con và
sông Cái. Sông Con chảy qua Kiên Trinh, An Lương, An
Xuyên rồi đổ vào đầm Đạm Thủy. Sông Cái chảy qua Phú
Hội, An Mỹ, An Bình và cũng đổ vào đầm Đạm Thủy.
Nguồn Vạn Ninh cách đầm Đạm Thủy khoảng 12 km (8
miles).
Bờ biển Bình Định dài 100
km (63 miles), gập ghềnh, có nhiều cửa biển như
Thiện Chánh, Cà Công, Hà Rá, Phú Thứ, Đề Gi... Cảng
Qui Nhơn là thương cảng quan trọng. Bình Định có hai
mùa: mùa nắng từ tháng Hai đến tháng Chín, mùa mưa
từ tháng Mười đến tháng Giêng thường có bão lụt. Hai
quốc lộ 1, 19 và liên tỉnh lộ 6 là những đường giao
thông quan trọng, nối liền Bình Định với những tỉnh
khác. Tỉnh có hai phi trường ở Qui Nhơn và An Túc.
Bình Định có nhiều đặc sản
nổi tiếng gần xa như: tơ lụa, yến xào, tôm, cá, gỗ
quí, trầm hương dầu thực vật, gạo, đá ốp lát và hàng
thủ công mỹ nghệ.
THẮNG CẢNH
Ghềnh Ráng:
Quần thể du lịch Ghềnh Ráng ở
phía Đông Nam thành phố Qui Nhơn và cách trung tâm
thành phố 3 km (2 miles). Ghềnh Ráng có diện tích
rộng 35 ha, là thắng cảnh đẹp với bãi cát trắng chạy
dài, nước biển trong xanh. Nơi đây có bãi đá Trứng
còn gọi là bãi tắm Hoàng Hậu bên cạnh đồi Thi Nhân
với mộ nhà thơ Hàn Mặc Tử, những hang động đa hình
đa dạng, những tượng đá mặt người, đầu sư tử, hòn
vọng phu, hòn chồng, hòn vợ, đầu voi... do thiên
nhiên tạo dáng dọc ghềnh đá bờ biển nơi đây. Từ
Ghềnh Ráng có thể nhìn bao quát bờ Đông của thành
phố Qui Nhơn và bán đảo Phương Mai.
Bãi Tắm Hoàng Hậu:
Nằm trong khu Ghềnh
Ráng, bãi tắm Hoàng Hậu được xem là bãi tắm đẹp nhất
ở tỉnh Bình Định. Ở đây có một bãi đá rộng 100 m2
(900 square ft), gồm toàn những hòn đá xanh, nhẵn
thín như một bãi trứng khổng lồ. Phía trước bãi là
những bức tường đá thiên nhiên đứng che chắn sóng
gió tạo nên vùng nước lặng. Trước năm 1945, vua Bảo
Đại đến đây du ngoạn, cho xây dựng khu nhà nghỉ 3
tầng hệt một con tàu đang lướt sóng, sân thể thao
bên cạnh bãi tắm. Bãi tắm với bao hòn trứng đá khổng
lồ chỉ dành riêng cho Nam Phương Hoàng Hậu tắm nên
được đặt tên "Bãi tắm Hoàng Hậu".
Bán Đảo Phương Mai - Thị
Nại: Thuộc huyện
đảo của thành phố Qui Nhơn, cách thành phố 8 km (5
miles) về phía Đông Bắc. Bán đảo Phương Mai rộng 300
ha có núi Phương Mai, nơi còn bảo tồn được hệ sinh
thái tương đối phong phú với nhiều loại động, thực
vật quí, nhiều cảnh đẹp. Phía Tây bán đảo, cạnh núi
Phương Mai là
đầm
Thị Nại. Đầm là một môi trường nuôi trồng các loại
hải sản và cũng là
điểm
tham quan du lịch.
Suối Nước Nóng Hội Vân (Suối
Tiên): Suối ở cách
trung tâm thành phố Qui Nhơn 50 km (31 miles) về
hướng Tây Bắc thuộc huyện Phù Cát. Nước suối có độ
nóng 78
°
C đến 84
°
C gồm nhiều thành phần hóa học: bicatbonat - clorua
natri thuộc nhóm nước khoáng silic; hàm lượng axit
silic trong nước rất cao 101mg/l chữa được các bệnh
thấp khớp, thần kinh, tim mạch, các bệnh ngoài da...
Nhà
điều
dưỡng dùng các phương pháp tắm ngâm, tắm hương sen,
phun hơi ở độ nóng 38
°
C giúp cho việc chữa bệnh, tăng cường sức khỏe.
Thắng Cảnh Hầm Hô:
Hầm Hô là tên một dòng suối
lớn (một nhánh của dòng sông Côn), chảy qua khu rừng
già, nơi có nhiều tảng đá lớn muôn hình muôn vẻ,
thuộc địa phận xã Phú Bình, huyện Tây Sơn, cách
thành phố Qui Nhơn khoảng 55 km (34 miles) về hướng
Tây Bắc. Thiên nhiên ở đây yên tĩnh với nhiều cảnh
quan đẹp, hấp dẫn và là nơi tham quan, nghỉ ngơi của
các tour du lịch sinh thái nằm trong tuyến tham quan
du lịch Sơn Tây - Hầm Hô. Hầm Hô còn là
địa
danh lịch sử liên quan đến những cuộc khởi nghĩa Tây
Sơn và các nghĩa binh của Mai Xuân Thưởng.
KINH TẾ
Vì
Bình Định có nhiều đồng bằng nên dân chúng sống đông
đúc hơn các tỉnh khác ở Trung phần. Người Kinh sống
phần lớn ở vùng đồng bằng thành phố, ngoài ra còn có
người Chàm và người Thượng (sắc tộc Bahnar) sống ở
miền núi. Đa số dân chúng theo đạo Phật, Thiên Chúa
và một số đạo khác, thờ cúng Tổ Tiên.
Dân chúng đều tập luyện võ
Bình Định (còn gọi là võ Tây Sơn), là một môn võ
luyện tập cho thân thể khỏe mạnh, để tự vệ, nhưng đã
góp phần rất lớn trong công cuộc cứu nước của tiền
nhân. Võ Tây Sơn có từ ngàn xưa và
được
cải tiến, phát triển, trong suốt tiến trình tranh
đấu chống ngoại xâm và
đánh
đổ bạo quyền. Võ Bình Định còn là môn võ tinh thần,
luyện tập cho ý chí thêm kiên cường, tâm hồn cao
thượng, thương dân, yêu nước.
Về kỹ thuật, võ Bình Định gồm có quyền thuật và mười
lăm môn binh khí, nhưng sở trường nhất là quyền, côn,
kiếm, đao và thương. Hiện nay, võ Bình Định có hai
môn phái chính là phái An Thái, sở trường về quyền
thuật và phái Thuận Truyền, sở trường về kiếm thuật
và
đánh
roi. Nói lên tính ưa chuộng môn võ này, dân gian có
câu ca dao:
Ai về
Bình Định mà coi,
Con gái Bình Định múa roi đi quyền.
Dân trong tỉnh
rất khéo léo chân tay về ngành dệt và chạm trổ.
Trước năm 1975, những ngày hội, nhất là Tết Nguyên
Đán, dân chúng thường tổ chức rất lớn, đều có Hát
Bội (Hát Bộ) và hò Bài Chòi. Nhà cửa có lối kiến
trúc lạ: mái dầy, nhà thấp, hình dáng ôm ôm như
những nhà tranh ở tỉnh Hà Đông. Lý do giản dị là dân
ta ở Hà Đông vào lập nghiệp khá nhiều.
Gần 80% dân
chúng sống bằng nghề nông, gạo trong tỉnh dư thừa,
còn có thể cung cấp cho Pleiku và Quảng Ngãi. Các
hoa màu phụ trồng rất nhiều là khoai mì, đậu phụng,
dừa, bông vải, thuốc lá. Đặc biệt là dừa ở Phú Mỹ và
Tam Quan có mức sản xuất khá cao. Cây ăn trái cũng
được trồng nhiều trong tỉnh như cam, chuối, quít,
xoài, dứa. Một loại đặc sản nổi tiếng của Bình Định
là bánh tráng và dân chúng trong tỉnh rất chuộng
bánh tráng, nhiều lúc chỉ dùng bánh tráng nhúng nước
để ăn thay xơm bữa. Xưa, trong trận chiến thắng quân
Thanh, đạo dân quân của vua Quang Trung đã dùng bánh
tráng như một loại lương khô tiện lợi trên đường
tiến quân thần tốc ra Bắc.
Ngành ngư
nghiệp phát triển mạnh vì có bờ biển dài, nhiều sông
ngòi. Làm nước mắm cũng là nghề thịnh hành trong
tỉnh. Đồng cỏ Bình Định khá tốt, tiện cho việc chăn
nuôi. Lâm sản cũng là một nguồn lợi đáng kể, có
nhiều gỗ quý như gõ, trắc, lim, bằng lăng... Khoáng
sản chỉ có muối với số lượng sản xuất cao.
LỊCH SỬ
Đất
Bình Định xưa thuộc bộ Việt Thường, một trong 15 bộ
của nước Văn Lang. Đời Tần là huyện Lâm Ấp thuộc
Tượng quận, đời Hán là huyện Tượng Lâm thuộc quận
Nhật Nam. Năm 137, một thổ dân là Khu Liên chiếm đất
này tự xưng là Lâm Ấp Vương. Đời nhà Tùy lấy lại đặt
làm quận Xung Châu, sau đổi tên là quận Lâm Ấp gồm
bốn huyện Kim Sơn, Tương Phố, Giao Giang và Nam Cực.
Đến đời Đường, quận này được đổi làm Châu Lâm gồm ba
huyện Kim Long, Hải Giới và Lâm Ấp.
Đầu thế kỷ thứ 9, vua Chiêm
Thành chiếm đất này, rồi dời kinh đô từ Quảng Nam
vào Bình Định và đặt tên cho kinh đô mới là Đồ Bàn (Vijara),
còn gọi là Chà Bàn. Đến năm 1470, vua Lê Thánh Tông
chiếm được thành Đồ Bàn. Miền đất này được sát nhập
vào đạo Quảng Nam, trở thành phủ Hoài Nhơn gồm ba
huyện Bồng Sơn, Phú Lý và Tuy Viễn thuộc Quảng Nam.
Năm 1602, thời Nguyễn Hoàng, Hoài Nhơn đổi thành Qui
Nhơn. Kể từ đây, địa danh Qui Nhơn đã được ghi vào
lịch sử với biết bao thăng trầm qua những trận đánh
vô cùng khốc liệt.
Năm 1771, nhà Tây Sơn khởi
nghĩa. Năm 1773, Nguyễn Nhạc đắp thêm thành Đồ Bàn,
đặt tên là Hoàng Đế thành. Tỉnh Bình Định, đất Qui
Nhơn đã sản sinh một đại anh hùng của dân tộc, đó là
vua Quang Trung Nguyễn Huệ, người đã đánh đuổi giặc
nhà Thanh ra khỏi bờ cõi vào mùa Xuân Kỷ Dậu 1789,
với chiến thắng Đống Đa lừng danh lịch sử.
Vua anh hùng có tướng anh
hùng. Quận Bình Khê, làng Xuân Hòa, quê anh thư Bùi
Thị Xuân, vị nữ tướng can trường đã cùng với các
tướng đầu tiên vào giải phóng thành Thăng Long. Làng
Phú Mỹ, quê anh hùng Võ Văn Dũng, vị tướng tài ba
trong trận đại phá quân Thanh.
Nói đến cuộc khởi nghĩa Tây Sơn, phải nhắc đến làng
Tây Sơn trên cao nguyên An Khê, căn cứ địa đầu tiên
chiêu binh mãi mã, và
được
đồng bào Thượng tham gia, tiếp vận lương thực rất
nhiều. Đến đời vua Cảnh Thịnh Nguyễn Quang Toàn yếu
thế bị Nguyễn Ánh đem quân đánh lần thứ ba thì phá
được thành, chiếm Qui Nhơn và
đổi
tên là thành Bình Định năm 1799.
Năm 1800, thành này bị hai dũng tướng của Tây Sơn là
Trần Quang Diệu, Võ Văn Dũng vây đánh ráo riết,
trong lúc đó quân Nguyễn Ánh dồn tiến ra Quảng Nam,
Phú Xuân. Hai tướng giữ thành là Võ Tánh, Ngô Tùng
Châu đều tuẫn tiết. Sau đó, Nguyễn Ánh lấy được Phú
Xuân, trở về chiếm lại Qui Nhơn, mới đặt tên là dinh
Bình Định. Sau khi Gia Long lên ngôi, dinh Bình Định
trở thành trấn. Năm 1832, đời Minh Mạng, trấn Bình
Định trở thành tỉnh. Năm 1852, Tự Đức lấy từ Bình
Định vô tới Bình Thuận đặt làm Tả Kỳ.
Thời Pháp thuộc, dân chúng
Bình Định tham gia kháng chiến rất mạnh mẽ. Tháng
7/1885, vua Hàm Nghi truyền hịch Cần Vương kêu gọi
toàn dân vùng dậy. Tổng đốc Bình Định là Đào Doãn
Địch liền từ quan, cầm đầu các Văn Thân chống quân
Pháp. Lúc bấy giờ, làng Phú Lạc, quận Bình Khê, có
người thanh niên 25 tuổi Mai Xuân Thưởng, văn võ
song toàn, chiêu mộ những người nghĩa dũng, đem quân
về đứng dưới lá cờ khởi nghĩa của ông Đào Doãn Địch.
Tháng 9/1885, ông Đào Doãn Địch mất, Mai Xuân Thưởng
lãnh đạo phong trào kháng chiến tại Bình Định. Giúp
ông có các tướng văn võ như Bùi Điền, Nguyễn Cang,
Nguyễn Hóa, Trần Nha (người quận Bình Khê), Đặng
Thành Tích (người quận An Nhơn), Nguyễn Trọng Trì,
Trần Trung, và
đông
đảo đồng bào Kinh, Thượng tham gia. Nghĩa quân đánh
giặc Pháp nhiều trận liệt, riêng hai trận Thủ Thiện
(thuộc quận Bình Khê), Cẩm Văn (thuộc huyện Tuy
Phước), làm quân giặc hao tổn binh tướng rất nhiều.
Tháng 6/1886, một đạo nghĩa quân Bình Định phối hợp
với quân Nghĩa Hội Quảng Bình, vượt qua núi Thạch
Tấn đánh chiếm quận Bình Sơn (Quảng Ngãi). Pháp dùng
kế phủ dụ ông Mai Xuân Thưởng không được, bèn cùng
với hai tên việt gian Trần Bá Lộc, Nguyễn Thân đem
đại binh vây căn cứ nghĩa quân.
Quân ta phải rút về vùng Linh Đổng tính kế trường kỳ,
nhưng tại trận Phú Phong, các anh hùng Bùi Điền,
Nguyễn Cang, Nguyễn Hóa tử trận. Bọn Trần Bá Lộc sai
bắt dân làng Phú Lạc, Phú Phong làm áp lực. Ông Mai
Xuân Thưởng tự mình ra gặp giặc để cứu dân lành và
mẹ. Sau đó ông bị giặc Pháp đem ra hành hình.
DI TÍCH
Chùa Thập Tháp (Thập
Tháp Di Đà Tự):
Chùa Thập
Tháp
do nhà sư Nguyên Thiều (pháp danh Siêu Bạch) được
xây dựng vào năm 1665, thời chúa Nguyễn Thái Tông,
Nguyễn Phúc Tần, tại xã Nhơn Thành, huyện An Nhơn, ở
cách thành phố Qui Nhơn 27 km (17 miles) về hướng
Tây Bắc. Chùa tọa lạc trong phạm vi thành Đồ Bàn, đế
đô của vương triều Chămpa cũ, trên một ngọn đồi
thoáng mát có dòng suối Bàn Khê chảy bao quanh cùng
với hồ sen tạo nên một khung cảnh tĩnh mịch. Trong
khuôn viên chùa là vườn cây ăn trái xanh tốt.
Chùa có lối kiến trúc phương Đông theo hình chữ "khẩu"
với 4 khu chính: Chính điện, Phương trượng, Đông
đường và Tây đường. Chính điện có Đại Hùng bảo điện
và 2 gian thờ phụ hai bên. Bên trong , nội thất
trang trí, chạm trổ tinh vi với các họa tiết hoa sen,
xấp sách, hoa cuộn trên gỗ quí, những đường nét rồng
bay, phượng múa, cách điệu rất trang nhã. Chùa xây
bằng loại gạch nung màu đỏ lấy từ 10 tháp Chàm đã đổ
nát ở đồi Long Bích, nên mới có tên gọi Thập Tháp.
Nhiều người cho rằng chùa còn tọa lạc trong vùng
Uyển Lăng của các triều đại vua chúa Chăm trước vì
chùa vẫn còn 3 giếng Chàm hình vuông, nước ngọt,
trong vắt.
Chùa Long Khánh:
Tọa lạc tại trung tâm
thành phố Qui Nhơn, chùa được xây dựng dưới thời vua
Lê Dụ Tông (thế kỷ 18). Chùa là nơi truyền bá tín
ngưỡng Phật giáo trong vùng thời bấy giờ. Hiện nay
chùa còn lưu giữ 2 hiện vật quý :
Thái
Bình Hồng Chung (chuông Hồng Thái) được đúc vào năm
1805, triều vua Gia Long.
Tấm
dấùu biểu trưng "Long Khánh Tự" được in vào năm 1813
triều vua Gia Long.
Thành Hoàng Đế (Thành
Chà Bàn): Thuộc địa
phận xã Nhơn Hậu, huyện An Nhơn và cách thành phố
Qui Nhơn 27 km (17 miles) về hướng Tây Bắc. Thành
được xây dựng vào cuối thế kỷ 10, dưới triều đại vua
Yangpuku Vijaya. Đây là kinh đô cuối cùng của vương
quốc Chămpa và các vua Chăm đã đóng ở đây từ thế kỷ
11 đến thế kỷ 15. Di tích hiện nay không còn nguyên
vẹn, chỉ còn sót lại các bức tường thành. Tường
thành xây bằng đá ong, có hào, đường lát đá hoa
cương.
Trong thành có những di tích cũ của người Chăm như
giếng vuông, tượng nghê, voi, bên cửa hậu có gò Thập
Tháp, trên gò vốn có 10 ngôi tháp Chàm. Đặc biệt có
ngôi tháp Cánh Tiên cao gần 20 m (60 ft), góc tháp
có tượng rắn làm bằng đá trắng, 2 voi đá và nhiều
tượng quái vật. Chùa Thập Tháp Di Đà nằm ở phía Bắc
thành, chùa Nhạn Tháp ở phía Nam thành là những ngôi
chùa cổ. Trong đó còn giữ được nhiều di tích, hiện
vật liên quan đến văn hóa Chămpa và phong trào Tây
Sơn.
Đến năm 1778, Nguyễn Nhạc tự xưng là Trung Ương
Hoàng đế, đóng đô ở đây, gọi là Hoàng Đế thành; mở
rộng về phía Đông, xây dựng nhiều công trình lớn.
Năm 1799, thành bị quân nhà Nguyễn chiếm, đổi gọi là
thành Bình Định. Năm 1814, nhà Nguyễn phá bỏ thành
cũ, xây thành mới, cách thành cũ khoảng 5 km (3
miles) về phía Nam.
Nhà Bảo Tàng Quang Trung:
Nguyễn Huệ là một anh
hùng dân tộc có công dẹp loạn trong nước và
đánh
đuổi quân xâm lược. Năm 1788 ông thống lĩnh đại quân
từ Phú Xuân (Huế) hành quân thần tốc 35 ngày đ
êm
ra Bắc đánh tan 29 vạn quân Thanh xâm lược, giải
phóng Thăng Long (nay là Hà Nội). Nguyễn Huệ lên
ngôi Hoàng Đế hiệu là Quang Trung.
Nhà bảo tàng Quang Trung và tượng đ
ài
anh hùng được dựng trên khu đất nơi sinh ra Nguyễn
Huệ ở làng Kiên Mỹ, xã Bình Thạnh, huyện Tây Sơn,
cách thành phố Qui Nhơn khoảng 45 km (28 miles).
Đến
bảo tàng Quang Trung, du khách được xem các hiện vật
trưng bày ở đây về những chiến tích của vua Quang
Trung. Ngoài ra, du khách còn được thưởng thức điệu
múa trống võ Tây Sơn , một môn võ truyền thống của
Bình Định. Đặc biệt cô gái biểu diễn trống trận
Quang Trung là cháu đời thứ 9 trong một gia đình có
truyền thống "chơi" trống trận.
Thành Thị Nại:
Thành Thị Nại một thời
từng là trung tâm của vương quốc Chămpa trong quá
trình di chuyển từ đất Quảng Nam vào Quảng Ngãi
trước áp lực của nhà nước phong kiến Đại Việt. Thị
Nại là
đô
thị cổ đại duy nhất và lớn nhất của vương quốc
Chămpa tồn tại trong suốt 5 thế kỷ (từ thế kỷ 10 đến
thế kỷ 15). Thị Nại cũng là cảng khẩu ven đầm, gần
biển với hai chức năng quân cảng và thương cảng.
Theo các cứ liệu nghiên cứu lịch sử cho biết niên
đại của thành Thị Nại (hay cảng Thị Nại) được xây
cất sớm nhất là vào năm 803, muộn nhất là năm 1000,
khi người Chàm dời vào đóng đô ở Đồ Bàn thì thành đã
có rồi. Thành Thị Nại cách bờ Đông của đầm Thị Nại 5
km (3 miles), cách thành Đồ Bàn 22 km (14 miles) ở
phía Tây - Tây Bắc, cách Tháp Đôi 24 km (15 miles)
về hướng Đông - Đông Nam. Thành hiện còn dài 200 m
(600 ft), dày khoảng 3 m (9 ft), cao còn 1,8 m (5.4
ft). Bờ thành nằm dọc sông Côn thuộc xã Phước Quang
và một phần xã Phước Hòa, huyện Tuy Phước.
LỄ HỘI
Lễ Cúng Cá Ông:
Ở các xã ven biển Bình Định
thường xuyên mở hội cúng Cá Ông vào ngày 15/3 âm
lịch tại các đền thờ Cá Ông. Theo truyền thuyết, Cá
Ông thường cứu giúp thuyền và người bị nạn trên biển.
Ngoài nghi lễ truyền thống, trong hội còn có hát bả
trạo, hát bội.
Lễ Hội Tây Sơn:
Lễ hội Tây Sơn được tổ chức hàng năm vào ngày 5/1 âm
lịch (chính hội), bắt đầu tổ chức từ ngày mồng bốn
và kéo dài đến vài ngày sau tại xã Nghi Bình, huyện
Tây Sơn để tưởng nhớ các thủ lĩnh của phong trào Tây
Sơn, đặc biệt là người anh hùng áo vải Quang Trung
và kỷ niệm chiến thắng Ngọc Hồi Đống Đa (năm 1789),
đánh thắng 29 vạn quân Thanh. Ngoài nghi lễ truyền
thống, trong hội còn có nhiều hoạt động văn hóa dân
gian các dân tộc Việt, Bana; nhiều cuộc biểu diễn võ
thuật như đấu võ, đánh côn, đi quyền... Tiết mục độc
đáo của lễ hội là cuộc thi đánh trống bộ, mỗi bộ 12
chiếc trống da, còn gọi là trống trận Tây Sơn và
diễn cảnh đánh trận giả làm sống lại khí thế hào
hùng của nghĩa quân Tây Sơn năm xưa trên đất Tây Sơn
- Bình Định.
Lễ Hội Đổ Giàn:
Tổ chức vào ngày 15/7 âm lịch
hàng năm tại chùa Bà, làng An Thái, huyện An Nhơn.
Ngoài ý nghiã lễ Vu Lan -lễ báo hiếu nhà Phật, đây
còn là hội đua tài của các võ sĩ của các làng võ
quanh vùng. Trong lễ hội có nhiều sinh hoạt văn hóa,
đặc biệt là hát bội. Phần chính của hội là tranh tài
cướp heo quay, vật cúng thần từ trên giàn cao tung
xuống mang về cho làng mình. Người thắng cuộc là
người được nhân dân quý trọng.
Hội Làng Thị Tứ:
Làng Thị Tứ thuộc xã
Đập Đá, huyện An Nhơn, là làng có truyền thống làm
rèn và chạm vàng Tây. Lễ hội hàng năm vào ngày 12/2
âm lịch để tưởng nhớ công ơn của ông Đào Giã Tượng,
ông tổ của nghề rèn đã có công truyền nghề cho dân
làng. Lễ hội diễn ra ở nhà thờ họ Đào để cúng lễ tổ
sư nghề rèn, cỗ bàn rất linh đình. Sau lễ tế có vui
chơi, ca hát văn nghệ.
Hội
Xuân Chợ Gò: Được
tổ chức vào 2 ngày: mồng 1 và mồng 2 tết tại chợ Gò,
Trường Úc, xã Phước Nghĩa, huyện Tuy Phước. Trong
hội chợ có bán nhiều hàng hóa, chủ yếu là trái cây
các loại, đồ chơi trẻ em... và tổ chức nhiều trò
chơi dân gian như chọi gà, hát bài chòi, cờ người,
hái lộc, dạo cảnh...