Kon Tum
ĐỊA LƯ
Diện
tích: 9.934km2.
Dân số (2004): 331.102 người.
Tỉnh lỵ: Thị xă Kom Tum.
Các huyện: Đăk Glei, Ngọc Hồi, Đak Tô, Kon Plong,
Đak Hà, Sa Thầy.
Dân tộc: Việt (Kinh), Xơ Đăng, Ba Na, Giẻ Triêng,
Gia Rai...
Kon Tum là
tỉnh ở phía Bắc Tây Nguyên Gia Lai - Kon Tum, một
trong 3 cao nguyên lớn của Tây Nguyên. Kon Tum có
chiều dài biên giới 275 m (825 ft), tiếp giáp với Hạ
Lào và Bắc Cam-Pu-Chia về phía Tây, Bắc giáp tỉnh
Quảng Nam, Đông giáp tỉnh Quảng Ngăi, Nam giáp tỉnh
Gia Lai. Phần lớn lănh thổ Kon Tum nằm ở phía Đông
của dăy Trường Sơn, địa h́nh thấp dần từ Tây sang
Đông và từ Bắc xuống Nam. Phía Bắc tỉnh có dăy núi
Hoa Cương cao nhất miền Nam; đỉnh Ngọc Lĩnh 2.596 m
(7,788 ft), đỉnh Ngọc Phan 2.251 m (6,753 ft). Đây
là nơi bắt nguồn của các sông Tranh, sông Thu Bồn,
sông Trà Khúc, sông Ba.
Kon Tum có
trên 50% diện tích là rừng với các khu rừng nguyên
sinh nơi có các loại gỗ quí, các lâm đặc sản và chim
thú quí hiếm. Ngoài ra, Kon Tum c̣n có vùng đất
bazan thích hợp với các cây công nghiệp như cao su,
cà phê, chè, mía, dâu tằm...
Kon Tum có khí
hậu cao nguyên nhiệt đới gió mùa, nhiệt độ trung
b́nh năm 23,4
°
C, lượng mưa trung b́nh năm 1.884 mm. Mùa mưa từ
tháng 5 đến tháng 10, mùa khô từ tháng 11 đến tháng
4 năm sau. Đường quốc lộ 14 chạy dài từ Tây Quảng
Nam qua tỉnh lỵ Kon Tum, đi xuống Gia Lai - Đắk Lắk
- Sài G̣n; quốc lộ 24 nối Kon Tum với Quảng Ngăi;
quốc lộ 40 nối Kon Tum với Atôpơ (Lào).
Thị xă Kom Tum
xây bên bờ sông Đắc Pla, một nhánh của sông Pô Cô,
giữa một đồng bằng nhỏ cao 525 m (1,575 ft). Đây là
trung tâm hành chính cũ của Pháp ở Tây Nguyên. Các
cố đạo Pháp đă đến đây từ năm 1851. Thị xă Kom Tum
cách Buôn Ma Thuột 246 km (154 miles), cách Qui Nhơn
215 km và cách Pleiku 49 km (31 miles). Du khách đến
Kon Tum sẽ có dịp đi thăm nhiều cảnh đẹp của vùng
núi rừng Tây Nguyên như núi Ngọc Lĩnh, các khu rừng
nguyên sinh như Chư Mô Ray, Sa Thầy, khu du lịch Đắc
Tre ở huyện Kon Plong, suối nước nóng Đak Tô.
THẮNG CẢNH
Thác Yaly:
Thác cao 40 m (120 ft) có nhiều bậc. Đây là ḍng
thác đẹp và lớn nhất Tây Nguyên trên sông Pô Cô.
Đường vào thác đă được nâng cấp tạo thuận lợi cho
khách tham quan. Nơi đây đang xây dựng nhà máy thủy
điện Yaly với công suất 720 MW và sản lượng điện là
3,68 tỷ KWh.
Làng Ba Na:
Dân tộc Ba Na là một trong ba
dân tộc Đông người ở Tây Nguyên, đặc biệt ở Kon Tum
người Ba Na sinh sống đông nhất. Ba Na Kon Tum là
tên một nhóm người Ba Na tập trung ở thị xă Kon Tum.
Theo tiếng Ba Na th́ Kon là làng, Tum là hồ, ao. Kon
Tum là làng có nhiều ao, hồ. Ba Na Kon Tum là làng
Ba Na có nhiều ao, hồ. Vào thăm làng Ba Na, du khách
sẽ bắt gặp những nếp nhà sàn h́nh vuông hay h́nh chữ
nhật, cầu thang lên nhà bằng một thân cây gỗ, đục
đẽo thành từng bậc khá công phu, thể hiện sự khéo
tay của đ
àn
ông Ba Na.
Người Ba Na là dân tộc đầu tiên ở Tây Nguyên biết
dùng chữ viết để học tập và dùng trâu ḅ để cày
ruộng. Tuy nhiên họ cũng chưa biết tổ chức cuộc sống
khoa học, gạo chỉ giă đủ ăn từng ngày, nước cũng chỉ
lấy đủ dùng cho một ngày. Người Ba Na săn bắn giỏi,
vào nhà nào cũng treo vài cái nỏ bằng gỗ rất chắc.
Cũng như các dân tộc khác ở Tây Nguyên, giữa nhà sàn
người Ba Na là cái bếp lửa luôn luôn đỏ hồng, cũng
là nơi mọi thành viên trong nhà quây quần tṛ chuyện,
ăn uống và ngủ quanh đó. Đàn ông Ba Na hay có vết
sẹo ở ngực. Đó chính là vết tích do chính bản thân
người đó gây nên bằng cách lấy lửa đập vào ngực, lấy
than hồng dí vào ngực hay dùng dao rạch ngực (khi
trong nhà có người chết) để tỏ ḷng thương tiếc
người quá cố.
KINH TẾ
Đa
số dân chúng cư ngụ là người Thượng rồi đến người
Kinh. Đồng bào Thượng có nhiều sắc tộc khác nhau như
Dié, Duan, Striêng, Sédang, Bahnar, Djrai... mỗi sắc
tộc chính lại có thêm một số sắc tộc phụ. Kontum là
tỉnh đầu tiên của miền cao nguyên và cũng là nơi
tiếp nhận nhiều đồng bào từ các tỉnh B́nh Định,
Quảng Ngăi, Quảng Nam đến lập nghiệp.
Đồng bào ta phần đông theo
đạo Thiên Chúa, rồi đến các đạo Phật, Cao Đài, Ḥa
Hảo và
đạo
Khổng. Ngoại trừ một số người Thượng ở các vùng núi
cao chỉ cúng Thần linh và chia làm hai loại thần là
thượng đẳng thần (như thần cọp, thần voi, thần cây...).
V́ đồng bào có nhiều sắc tộc nên cũng có nhiều phong
tục tập quán riêng biệt. Nhưng dù có khác biệt về
tôn giáo, phong tục, đồng bào Thượng và Kinh luôn
luôn sống ḥa hợp và nâng đỡ nhau trong cuộc sống.
Hoa màu chính là lúa, rồi
đến hoa màu phụ là ngô, sắn, khoai, rau cỏ, cà phê,
trà và cây ăn trái. Lâm sản khá phong phú có thể
khai thác được như gỗ lim, trắc hương, sao, gỗ tạp,
thêm nữa là mây, tre, nứa, măng và hạt giẻ... Rừng
Kontum có đủ loại thú...
Kinh tế và thương mại khó
phát triển v́ hoàn cảnh địa thế. Dân chúng tập trung
vào các nghề liên quan đến nông nghiệp, cùng một số
ngành buôn bán nhỏ khác.
LỊCH SỬ
Tên
"Kontum" theo tiếng người Thượng Bahnar. "Kon" có
nghĩa là "làng" và "Tum" là cái "hồ". Kontum là "làng
ở ven hồ". Đời vua Tự Đức, đạo Thiên Chúa bị cấm
đoán. Linh mục Cuénol cai quản địa phận "đ
àng
trong" ủy nhiệm cho thầy Nguyễn Do t́m một nơi an
toàn cho các nhà truyền giáo lánh nạn. Ông Nguyễn Do
vào vùng rừng núi An Khê học tiếng Thượng, sau đó
đến vùng Tây Bắc và t́m ra một thung lũng khá rộng,
đất đai ph́ nhiêu nằm trên sông Dak Bla. Ông chọn
nơi nầy làm căn cứ và xây dựng làng bên một hồ nước,
c̣n tồn lại đến ngày nay. Đây chính là Kontum, đồng
bào theo đạo Thiên Chúa, phần đông là người tỉnh
B́nh Định và Quảng Ngăi theo ông Nguyễn do đến đây
sinh sống, lập thành làng G̣ Mít , nay là khu Tân
Hương, trung tâm thị trấn Kontum.
Năm 1898, quân Pháp lập ṭa
đại lư hành chính ở nơi đây và trực thuộc Quy Nhơn,
do linh mục P.Viallenton cai quản. Năm 1907, ṭa đại
lư đổi thành ṭa công sứ Kontum và tỉnh lỵ đặt ở đây.
Lúc đó tỉnh Kontum bao gồm hai tỉnh Pleiku và Đắk
Lắk. Đắk Lắk tách rời khỏi Kontum vào năm 1923, rồi
tỉnh Pleiku cũng tách ra vào năm 1929. Đến năm 1958,
một phần đất của Kontum sát nhập tỉnh Pleiku. Năm
1959, quận Konplong của tỉnh lại giao cho tỉnh Quảng
Ngăi.
Khi giặc Pháp đến, đồng bào
Thượng đủ mọi sắc tộc theo các chiến sĩ Cần Vương
hoặc tụ họp nhau lại đánh Pháp. Năm 1901, đồng bào
Sédang đánh đồn Psi ở ngă ba sông DakPsi, Dak Pocô.
Giặc lập đồn này để ngăn chặn sự liên lạc giữa đồng
bào Sédang với đồng bào Djarai, Halang ở phía Nam.
Quân Pháp thua to, tên đồn trưởng Robert bị đâm
trọng thương, giặc phải rút về tỉnh lỵ. Năm 1902,
đồng bào ta lại tấn công đồn Nong Pot, giết đồn
trưởng Henri và phục kích một toán quân tại Kapeu do
tên Sicre chỉ huy. Pháp trả thù đem quân càn quét,
đốt phá buôn sóc, giết hại dân làng, trâu ḅ. Đến
năm 1910, đồng bào Thượng chống việc bắt đi phu làm
đường rồi cùng tù trưởng Bé chiếm đồn Dakto, giết ba
sĩ quan Pháp. Giặc khó ḷng kiểm soát dân số v́ đồng
bào ta thường rút vào rừng sâu tụ hợp nhau lại t́m
cách đánh giặc. Năm 1938, đồng bào Thượng ở vùng Bắc
Kontum tổ chức nhiều trận tấn công vào đồn bót của
giặc.
DI TÍCH
Chùa Bác Ái:
Tọa lạc ở góc đường Trần Phú
và Phan Chu Trinh, thị xă Kon Tum. Chùa được xây
dựng vào năm 1932 do ông Vơ Chuẩn, quản đạo tỉnh Kon
Tum thiết kế. Chùa được vua Bảo Đại ban tấm biển "Sắc
Tứ Bác Ái Tự".
Chùa Hồng Từ:
Chùa tọa lạc tại số 245 đường
Trần Hưng Đạo, phường Quyết Thắng, thị xă Kon Tum.
Chùa do Ḥa thượng Thích Đức Thiện xây dựng vào năm
1958. Chùa đă trải qua 6 đời sư trụ tŕ và
được
trùng tu vào các năm 1969 và 1986. Trong chính điện
thờ Phật có pho tượng Phật Thích Ca bằng đồng nặng
1.000 kg, cao 1,2 m (3.6 ft).
Nhà Rông:
Nhà Rông chỉ có ở những buôn
làng Bắc Tây Nguyên, đặc biệt ở hai tỉnh Gia Lai và
Kon Tum. Mỗi buôn, làng dựng một ngôi nhà sàn lớn
được trang trí đẹp ở giữa buôn làng gọi là nhà Rông.
Nhà Rông là nơi diễn ra các sự kiện quan trọng: lễ
tết, hội làng, đám cưới, lễ cầu nguyện và là nơi hội
họp của cả buôn làng già, trẻ, trai, gái... Nhà rông
của mỗi dân tộc đều có những nét riêng trong kiến
trúc, tạo dáng, trang trí hoa văn. Nh́n chung nhà
Rông vẫn là ngôi nhà to nhất, thường gấp ba, gấp bốn
nhà thường, có mái nhọn xuôi dốc và
được
dựng trên những cột cây to, thường là tám cột bằng
cây đại thụ, thẳng, chắc; mái nhọn lợp bằng lá gianh,
phơi kỹ cho đến khi vàng óng.
Trên những v́ kèo được trang trí những hoa văn có
màu sắc rực rỡ mang tính tôn giáo thờ phụng, những
sự tích huyền thoại của dũng sĩ thuở xưa, những thú
vật được cách điệu, những vật, những cảnh sinh hoạt
gần gũi với cuộc sống buôn làng. Nổi bật trong trang
trí nhà Rông là h́nh ảnh thần mặt trời chói sáng.
Nhà Rông càng to đẹp th́ càng chứng tỏ buôn làng
giàu có, mạnh mẽ.
LỄ HỘI
Lễ Bỏ Mả (Pơ
Thi): Dân tộc Gia
Rai và một số dân tộc khác như Ba Na, Ê Đê... không
có phong tục thờ tổ tiên. Thương tiếc người chết, họ
chỉ giữ ǵn mồ mả một thời gian rồi sau đó sẽ tiễn
đưa vĩnh viễn người chết bằng lễ Bỏ Mả. Lễ được tiến
hành vài ba năm sau khi người thân qua đời. Đây là
lần cuối cùng để tiễn đưa người chết về thế giới bên
kia và là phần quan trọng nhất trong tang lễ.
Lễ Bỏ Mả được tổ chức rất trọng thể từ 2 đến 5 ngày
tại nghĩa địa, xung quanh nhà mồ vào sau mùa thu
hoạch, lúc có trăng sáng. Đặc sắc hơn cả là lễ Bỏ Mả
của người Gia Rai. Trong dịp này, người già cũng như
trẻ ra múa hát chung quanh nhà mồ theo nhịp chiêng,
cùng nhau ăn uống. Sau lễ này, những người chồng (hoặc
người vợ) góa không c̣n phụ thuộc vào gia đ́nh. Đây
là lễ hội không thể thiếu trong đời sống tinh thần
của đồng bào Gia Rai, Bana, Êđê.
Lễ Cúng Đất
Làng: Là lễ hội của
người Ba Na sống ở Kon Tum và Gia Lai. Dân làng Ba
Na làm lễ cúng đất làng vào cuối tháng 2 đầu tháng 3
âm lịch khi chuẩn bị vào vụ sản xuất hoặc khi dọn
đến vùng đất mới. Trước hôm dựng làng đồng bào Ba Na
làm lễ kéo dài 2 ngày. Họ khấn các thần linh phù hộ
cho công việc làm ăn thuận lợi, và thông báo cho
thần linh biết công việc làm ăn trong năm mới.