Quê Hương Vit Nam Mến Yêu

                       

 

 

Quảng Nam

ĐỊA LƯ

Diện tích: 11.043 km2.
Dân số (2004): 1.430.424 người.
Tỉnh lỵ: Thị xă Tam Kỳ.
Các huyện: Thị xă Hội An; huyện: Hiên, Đại Lộc, Điện Bàn, Duy Xuyên, Giằng, Thăng B́nh, Quế Sơn, Hiệp Đức, Tiên Phước, Phước Sơn, Núi Thành, Trà My.
Dân tộc: Việt (Kinh), Cơ Tu, Xơ Đăng, Giẻ Triêng, Co...

Nằm ở giữa miền trung Việt Nam, phía Bắc Quảng Nam giáp Thừa Thiên Huế và thành phố Đà Nẵng, phía Tây giáp nước Lào, phía Nam giáp Quảng Ngăi, phía Đông giáp biển Đông, ngoài khơi có đảo Cù Lao Chàm với ngư trường rộng lớn.

Quảng Nam có nhiều đồi và núi (chiếm 72% diện tích) với nhiều ngọn núi cao: núi Lum Heo cao 2.045 m (6,135 ft), núi Tion cao 2.032m (6,096 ft), núi Gole-Lang cao 1.855m (ft). Vùng đất thấp ven biển là đồng bằng châu thổ, chiếm gần 25% diện tích đất của tỉnh tập trung ở phía Đông, trải dài hai bên quốc lộ.

Quảng Nam có nhiều đặc sản nổi tiếng như chè Phú Thượng, quế Trà My, cói Hội An, đường mía Điện Bàn... Các con sông lớn đều chảy dăy Trường Sơn ra biển Đông: sông Vu Gia, sông Thu Bồn, sông Tam Kỳ.

Quảng Nam có hai loại khí hậu khá rơ rệt là khí hậu của vùng nhiệt đới ven biển và khí hậu ôn đới vùng cao. Nhiệt độ trung b́nh hàng năm là 25° C. Ở Quảng Nam có hai mùa phân biệt rơ rệt: từ tháng 2 đến tháng 4 là mùa khô, từ tháng 9 đến tháng 12 là mùa mưa. Lượng mưa trung b́nh năm khoảng 2.000mm (79 in).

Trong tiến tŕnh lịch sử, vùng đất Quảng Nam và Đà Nẵng được tạo lập trên con đường phát triển về phía Nam của nhiều thế hệ người Việt. Các nhà khảo cổ học đă t́m thấy dấu tích văn hóa thời đại kim khí ở thế kỷ thứ nhất trước công nguyên, đó là nền văn hóa Sa Huỳnh, sau đó được người Chămpa kế thừa và sáng tạo ra nền văn hóa Chămpa.

Vương quốc Chămpa đă có hai thời kỳ cực thịnh với những cung điện, đền đài, thành quách uy nghi tráng lệ được xây dựng từ thế kỷ 1 đến thế kỷ 9. Năm 1306, vùng đất Quảng Nam trở thành đất của Đại Việt. Đây là đất sính lễ của vua Chế Mân dâng lên vua Trần Anh Tông khi cưới công chúa Huyền Trân về làm hoàng hậu vương quốc Chămpa. Năm 1471, dưới thời vua Lê Thánh Tông, Quảng Nam là tuyên thừa thứ 13 của Đại Việt.

Năm 1570 - 1606 Nguyễn Hoàng (chúa Nguyễn sau này) khi làm lănh chấn Quảng Nam đă coi Đà Nẵng là cửa ngơ yết hầu miền Thuận Quảng, biến nó thành đất dung nạp những người từ phía Bắc vào khai canh, lập ấp, mở mang sản xuất và dùng thương cảng Hội An khai thông giao lưu với bên ngoài... Năm 1832 được vua Minh Mạng đổi thành Quảng Nam dinh.

Tỉnh Quảng Nam đă được thành lập từ năm 1831, là một tỉnh nông nghiệp. Hai ḍng sông Thu Bồn và Tam Kỳ vừa tô điểm cho Quảng Nam vừa là đường giao thông rất tiện lợi.

Phố cổ Hội An (trước đây là cảng Đại Chiêm), một trong những đô thị cổ nhất Đông Nam Á, đến nay vẫn giữ được gần như nguyên vẹn. Phố cổ Hội An đă được UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.

THẮNG CẢNH

Băi Tắm Cửa Đại: Thuộc phường Cẩm An, thị xă Hội An. Cửa Đại nằm cách đô thị cổ Hội An 5 km (3 miles) về phía Đông theo đường 608 nối dài. Nơi đây là một băi tắm lư tưởng, rộng khoảng vài chục ha với dải cát trắng mịn, nước trong xanh, sóng nhỏ và luôn được mặt trời chiếu sáng. Cửa Đại là nơi thích hợp để xây dựng khu du lịch với nhiều loại h́nh vui chơi giải trí hấp dẫn: tắm biển, thể thao nước, nghỉ dưỡng.

Cù Lao Chàm: Cách thị xă Hội An 31 km (19 miles) về phía biển Đông là quần đảo cù lao Chàm gồm 8 đảo nhỏ nối sát nhau: ḥn lao, ḥn khô mẹ, ḥn khô con, ḥn tai, ḥn dài, ḥn là, ḥn mồ, ḥn ông. Đảo yến có vách đá dựng đứng là nơi thuận tiện cho chim én về làm tổ, trên đảo hiện có công ty Yến - Quảng Nam làm nhiệm vụ khai thác yến để xuất khẩu và bảo vệ đàn yến.

Đảo lớn nhất là đảo Rùa có h́nh dáng như con rùa, ở bên phải đảo yến, nơi đây có đông dân cư sinh sống làm nghề đánh cá, có cả chùa, chợ và trường học. Đặc biệt cù lao Chàm có món đặc sản địch phương là vú nàng và vú xao. Đây là hai loài nhuyễn thể trên lưng phủ một lớp vỏ xà cừ h́nh nón to cỡ từ vài ngón tay đến nửa bàn tay. Loài này sống bám vào đá dưới nước, thường được chế biến thành các món ăn có hương vị đặc biệt. Tại đây du khách sẽ tham quan, nghỉ ngơi, giải trí, tắm biển và du thuyền trong bầu không khí trong lành.

Sông Thu Bồn: Là một trong những con sông đẹp đă đi vào thơ ca Việt Nam.  Sông Thu Bồn bắt nguồn từ đỉnh Ngọc Linh cao 2.598 m (7,767 ft), chảy qua vùng núi phía Tây Nam, ḥa cùng sông Tiên, sông Thanh tại Quế Tân, chảy qua các vùng: Quế Sơn, Đại Lộc, Duy Xuyên và Điện Bàn, phố cổ Hội An rồi đổ ra biển Cửa Đại. Sông Thu Bồn chảy qua nhiều vùng thắng cảnh đẹp, nhiều làng quê nổi tiếng về cây ăn quả như làng Đại Bường, về làng nghề truyền thống như làng mộc Kim Bồng, làng gốm Thành Hà và chảy qua các kiến trúc văn hóa Chămpa độc đáo của vùng Quảng Nam. Vào ngày đẹp trời, khách du lịch đi bằng thuyền vừa và nhỏ trên sông để thưởng thức thắng cảnh hai bên bờ sông hoặc kết hợp thăm thú các làng nghề, các làng trồng cây trái quanh sông.

Suối Tiên: Thuộc địa phận xă Quế Hiệp, huyện Quế Sơn. Suối Tiên là một thắng cảnh hữu t́nh gồm 13 thác nước liên hoàn ngày đêm ŕ rào chảy giữa vùng núi non hùng vĩ, nơi đây thích hợp với các loại h́nh du lịch: dă ngoại, leo núi và săn bắn...

Làng Mộc Kim Bồng: Thuộc xă Cẩm Kim, phố cổ Hội An. Làng Kim Bồng đă nổi tiếng từ rất lâu với nghề chạm trổ, điêu khắc gỗ. Nghề mộc của làng có nguồn gốc từ miền Bắc. Qua quá tŕnh giao lưu, các nghệ nhân đă tiếp thu một số nét tinh hoa của các truyền thống điêu khắc chạm trổ Chiêm Thành, Trung Hoa, Nhật Bản... kết hợp với tài nghệ điêu luyện của riêng ḿnh để làm nên những tác phẩm mang đầy tính mỹ thuật và triết học. Các sản phẩm của làng Kim Bồng đă có mặt ở nhiều địa phương trong nước.
 

KINH TẾ

Dân chúng sinh sống tại Quảng Nam khá đông gồm có người Kinh, người Thượng (sắc dân Khatu), người Chàm và một số người Việt gốc Hoa. Đồng bào trong tỉnh theo đạo Phật, Khổng, Thiên Chúa và Cao Đài rất trọng tục lệ, tính t́nh khảng khái, hiếu thảo với cha mẹ, tôn kính người trên. Dân chúng hành nghề đánh cá tại các vùng có sông ng̣i và bờ biển, ngoài ra c̣n có làm nước mắm. Nước mắm vùng Nam Ô nổi tiếng.

Nông nghiệp là sinh hoạt chính của tỉnh. Nhưng dù đồng bằng do phù sa bù đắp, bà con nông dân phải chịu rất nhiều khốn khó v́ thời tiết khắc nghiệt. Mùa hè quá nóng làm khô cháy hoa màu, mùa mưa làm nước sông dâng nhanh gây lụt lội. Ruộng lúa chỉ cấy vào tháng Ba và tháng Tám. Các nông sản phụ là khoai lang, khoai ḿ, đậu phụng, đậu nành, đậu xanh, mía, trà, thuốc lá, dừa và rau cải. Thuốc lá Cẩm Lệ đậm đà, ai cũng biết. Mọingười tham gia việc chăn nuôi; tuy nhiên việc sản xuất trứng gà và vịt mang lại nhiều lợi tức cho người dân.

Lâm sản của Quảng Nam khá phong phú, có nhiều loại gỗ quí như huỳnh đàn, lim, sến, dẻ, nhiều cây thuốc như sâm, phục linh, quế, sa nhơn, những loại cây lợp nhà như tranh, nứa, lá mây, lồ ồ, và loại cây có chất dầu. Riêng Quảng Nam nhiều dă cầm, dă thú, rừng núi có bán đảo Sơn Trà và Bà Ná có trâu ḅ rừng, cọp, hươu, lợn ḷi, gà rừng, công, trăn, khỉ. Rừng Bà Ná có nhiều cây phong lan tuyệt đẹp.

Về khoáng sản, có mỏ than đá ở Nông Sơn, mỏ mi-ca ở Đại Lộc, Định Sơn. Núi và bờ biển cung cấp các loại đá xanh ở Đại Lộc, Lộc Quí, đá cẩm thạch ở núi Non Nước, cát trắng ở Ḥa An, An Thới, Liên Tŕ.

Các ngành công nghệ khá phổ biến tại Quảng Nam là đan cói, đúc đồ đồng, chạm đồ đá, chằm nón lá... nhưng nổi tiếng hơn cả là nghề dệt tơ lụa và chiếu.
 

LỊCH SỬ

Đất Quảng Nam xưa thuộc bộ Việt Thường, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Từ thế kỷ thứ 15, vùng đất từ đèo Hải Vân trở vào phía Nam thuộc nước Chiêm Thành, đặt tên là hai châu Vijaya và Pandut, Hồ Quư Ly chiếm ngôi nhà Trần xong liền sai tướng Đỗ Mẫn mở cuộc Nam chinh vào năm 1402. Vua Chiêm Thành là Ba Đích Lại chống không nổi nên phải dâng đất Chiêm Động (phía Nam tỉnh Quảng Nam) để xin băi binh. Nhưng Hồ Quư Ly bắt phải dâng thêm đất Cổ Lụy, rồi phân làm bốn châu Thăng, Hoa, Châu, Nghĩa .

Năm Canh Th́n 1470, vua Chiêm Thành là Trà Toàn cho người sang cầu diện nhà Minh, cùng lúc đó đem quân đánh châu Hoa. Vua Lê Thánh Tông quyết định Nam chinh, đại thắng quân Chiêm, bắt được Trà Toàn, nới rộng bờ cơi cho đến Phan Rang. Sau đó vua Thánh Tông thừa lập tuyên Quảng Nam gồm ba phủ Thăng Hoa, Hoài Nhơn và Tư Nghĩa vào năm 1471. Đến năm 1490, Thừa Tuyên Quảng Nam gọi là xứ Quảng Nam.

Năm Giáp Tư 1744, Chúa Nguyễn Phúc Khoái đổi xứ Quảng Nam thành dinh. Thời Gia Long, phủ Thăng Hoa đổi thành trấn Quảng Nam. Năm 1832, Minh Mạng đổi thành tỉnh. Năm 1962 đất Quảng Nam lại cắt bớt để thành lập tỉnh mới là Quảng Tín, ranh giới được quy định từ đèo Hải Vân đến sông Rù Ŕ.

Đà Nẵng là nơi quân Pháp khởi sự gây hấn để mở đầu cho việc xâm lăng nước ta. Đầu năm năm 1874, chúng ngang nhiên mang hai chiến hạm đậu ngoài cửa biển Đà Nẵng sinh sự. Ngày 15-4, chúng nổ súng trong hai giờ liền rồi bỏ đi. Ngày 16-9-1856, Pháp lại đến, bắn phá đồn lũy ở bán đảo Sơn Trà, rồi đổ bộ vùng biển. Quan quân triều đ́nh lui về tử thủ thành An Hải và các đồn lân cận, không cho giặc tiến thêm, sau chúng phải rút.

Ngày 30-8-1858, Pháp sai tên Trung tướng Genouilly đem 3.000 quân và 17 chiến tàu của Pháp và Y Pha Nho đến chiếm Đà Nẵng. Các đồn chính Nại Hiên, Tôn Hải, An Hải thất thủ. Đô thống Lê Đ́nh Lư chống trả kịch liệt và bị trọng thương. Triều đ́nh khẩn cấp cử hai dũng tướng Nguyễn Tri Phương và Phạm Thế Hiển từ trong Nam ra Đà Nẵng chống giữ. Hai ông cho lập đồn Liên Tŕ và đắp pḥng tuyến dài từ Hảøi Châu đến Phúc Ninh, Giặc thấy bất lợi, giữ lại một số quân, rồi mang tàu chiến đi đánh Gia Định. Ngày 7-2-1859, quân ta tiến đánh đẩy giặc ra ngoài biển. Chúng phải tăng cường lực lượng tấn công nhưng bị sập hầm chông tổn thất nặng. Pháp phải xin nghị ḥa và rút khỏi Đà Nẵng để dồn quân chiếm phía Nam nước ta.


Hưởng ứng hịch Cần Vương, con dân Quảng Nam vùng lên kháng chiến. Tháng 9-1885,các anh hùng Nguyễn Duy Hiệu (người làng Thanh Hà quận Điện Bàn), Trần Văn Dự, Phan Bá Phiến thành lập "Nghĩa Hội Quảng Nam", chiêu mộ và huấn luyện nghĩa quân, lập căn cứ chiến lược Trung Lập, rồi tiến đánh khắp đồn trại của giặc, từ La Qua (Điện Bàn), Trà Kiệu, Phú Thượng, Băi Chai, G̣ Muống đến Ḥa Vang, Phú Trạch, Viêm Minh, Duy Xuyên... Đau đớn thay triều đ́nh Đồng Khánh lại làm tay sai cho quân Pháp đàn áp phong trào kháng chiến.

Ngày 13-12-1885, anh hùng Trần Văn Dự bị bắt và bị giặc Pháp giết tại Điện Bàn, nhưng vẫn đem xác ông ra chém đầu lần nửa. Công cuộc vẫn tiếp tục không ngừng. Đồng Khánh lại cử tên phản quốc Nguyễn Thân cùng với giặc Pháp đem đại binh vây các căn cứ của nghĩa quân. Đến ngày 21-9-1887, v́ thế cùng lực kiệt và muốn bảo toàn sinh lực của tổ chức, Phan Bá Phiến uống thuốc độc tự vận, c̣n Nguyễn Duy Hiệu bị bắt và đền nợ nước tại Huế.

 

DI TÍCH

Chùa Cầu: Chùa đồng thời là cây cầu bắc ngang con lạch chảy ra sông Thu Bồn giáp ranh giữa hai đường Nguyễn Thị Minh Khai và Trần Phú. Chùa được xây dựng vào khoảng cuối thế kỷ 16, đầu thế kỷ 17 do các thương nhân Nhật Bản thực hiện. Chùa Cầu là một trong những di tích có kiến trúc khá đặc biệt. Mái chùa lợp ngói âm dương che kín cả cây cầu dài 12 m (36 ft). Chùa và cầu đều bằng gỗ sơn son chạm trổ rất công phu, mặt chùa quay về phía bờ sông. Hai đầu cầu có tượng thú bằng gỗ đứng chầu, một đầu là tượng chó, một đầu là tượng khỉ. Tương truyền đó là những con vật mà người Nhật sùng bái thờ tự từ cổ xưa. Phần gian chính giữa (gọi là chùa) thờ một tượng gỗ Bắc Đế Trấn Vơ - vị thần bảo hộ xứ sở, ban niềm vui hạnh phúc cho con người, thể hiện khát vọng thiêng liên mà con người muốn gửi gắm cùng trời đất nhằm cầu mong mọi điều tốt đẹp. Chùa được trùng tu vào các năm 1763, 1817, 1865, 1915, 1986.

Mộ Hoàng Diệu: Thuộc xă Điện Quang, huyện Điện Bàng. Ngôi mộ tọa lạc trên khu đất rộng tại làng Xuân Đài (xă Điện Quang, huyện Điện Bàng), là nơi cải táng cụ Hoàng Diệu - một công thần triều Nguyễn đă hy sinh anh dũng để bảo vệ thành Hà Nội ngày 25/04/1882 trước sự xâm lược của quân viễn chinh Pháp.

Phố Cổ Hội An: Thị xă Hội An nằm bên bờ sông Thu Bồn. Nơi đây xưa kia đă có một thời nổi tiếng với tên gọi Faifoo mà các thương nhân Nhật Bản, Trung Quốc, Bồ Đào Nha, Italia... đă biết đến từ thế kỷ 16, 17. Từ thời đó, thương cảng Hội An đă thịnh vượng, là trung tâm buôn bán lớn của vùng Đông Nam Á, một trong những trạm đỗ chính của các thương thuyền vùng Viễn Đông. Thị xă có những dăy phố cổ gần như nguyên vẹn, đó là loại nhà h́nh ống xuyên suốt từ phố nọ sang phố kia. Trong đó có một dăy phố nằm sát ngay bờ sông Hội An. Nhà ở đây toàn bằng gỗ quư, trong nhà treo hoành phi, câu đối, cột nhà chạm trổ hoa văn rất cầu kỳ... Hội An là một bảo tàng sống, khu phố cổ đă được đưa vào danh mục UNESCO công nhận là di sản văn hóa thế giới.

Nhà Lưu Niệm Huỳnh Thúc Kháng: Nhà lưu niệm cụ Huỳnh Thúc Kháng thuộc xă Tiên Cảnh, huyện Tiên Phước. Di tích là một căn nhà xây ba gian, lợp ngói là ngôi nhà lưu niệm của cụ Huỳnh Thúc Kháng - chí sĩ yêu nước, nhà cách mạng nhiệt t́nh trong những năm đầu thế kỷ 20.
 

LỄ HỘI

Lễ Hội Bà Thu Bồn: Được tổ chức vào ngày 12 tháng 2 âm lịch ở dinh bà Thu Bồn (c̣n gọi là Bô Bô phu nhân - người Chăm) để tưởng niệm Bà. Lễ hội diễn ra trong không khí tưng bừng náo nhiệt từ sáng đến tối mịt mới chấm dứt. Ngoài phần tế lễ c̣n có đua thuyền, rước cộ và hát bội. Người từ nhiều nơi khác đến đây dự đua để tranh tài. Theo tục lệ, thuyền thuộc lăng miếu nào th́ được vị thần ở lăng miếu đó bảo hộ.

Phía bên kia con sông Thu Bồn có thuyền bà Phường Chào - Người Việt, cũng tham gia đua thuyền cùng bà Thu Bồn. Trước khi tranh giải cả đoàn trạo thủ phải đến làm lễ, khấn vái trước lăng rồi mới làm lễ xuất phát. Mỗi thuyền đua cử ra một người ngồi ở mũi thuyền mặc áo đỏ, được coi như "tùy phái’ của thần chủ thuyền. Người đó có nhiệm vụ vừa hát, vừa múa để khích lệ trạo thủ khi nghe tiếng hô ấy sẽ cảm thấy ḿnh được thần linh trợ lực nên bơi khỏe hơn. Con sông Thu Bồn như cuộn sóng bởi tiếng ḥ reo của trạo thủ, tiếng cổ vũ của nhân dân hai bên bờ.

Tiếp theo đó là rước cộ, người tham gia rước cộ càng Đông th́ càng vui. Cộ là một bàn lớn hay có thể là một xe kéo được hóa trang lộng lẫy, bên trong để rất nhiều thức ăn như bánh, hoa quả, gạo thịt... Người rước cộ mặc trang phục truyền thống của làng. Dân làng cùng quây quần bên nhau cùng hát bội. Ngày hội đă đem đến cho mỗi người dân niềm vui, tin yêu cuộc sống.

Lễ Hội Long Chu: Là lễ hội của các làng biển quanh thị xă Hội An. Đây là lễ hội của các cư dân vùng biển Hội An để tống ôn và dịch bệnh vào lúc chuyển mùa. Lễ hội được tổ chức vào ngày 15 tháng 7 âm lịch hàng năm ở đ́nh làng hoặc nhà chính quyền thôn, ấp. Trong dân gian Long Chu là thuyền rồng, một biểu tượng oai linh để trừ ôn, tống dịch. Lễ hội có tục rước "Long Chu" bằng cót tre, voi, giấy vải từ đ́nh đến bến nước, đẩy bè, thuyền trôi ra sông, biển...

Trước ngày lễ, các thầy pháp đặt hương án và yểm bùa nơi có ma quỉ, theo sau là đoàn nam nữ thanh niên tay cầm giáo mác phát quang sạch sẽ đường làng, bờ bụi, miệng hát ḥ đối đáp trong không khí vui vẻ. Vào ngày lễ chính, thầy cả làm lễ tế và sau đó là lễ rước thuyền rồng đi trừ tà ma dịch tế quanh làng. Trong lễ có hát bộ, hát ḥ khoan, xô cô, các tṛ chơi dân gian khác. Dân làng quần tụ ăn uống múa hát đến tận đêm khuya.


Lễ Hội Cầu Bông: Được tổ chức vào một ngày đẹp trời, thuận tiện của mùa xuân hàng năm tại sông Hội An thuộc đoạn gần cửa Đại. Lễ hội có ư nghĩa như một nghi lễ mở mùa cho một năm mới. Trong lễ hội luôn luôn có tiết mục đua ghe vừa là thi trí, vừa để cầu cho dân được mùa, nhà nhà b́nh an và thịnh vượng. Lễ hội có nhiều người tham gia.

Lễ Vía Bà Thiên Hậu: Lễ vía Bà Thiên Hậu của người Hoa sinh sống ở Hội An tổ chức tại hội quán Phúc Kiến (Hội An) và Ngũ Bang vào ngày 23/3 âm lịch hàng năm để cúng một vị nữ thần chuyên cứu trợ tàu thuyền mỗi khi gặp nạn trên biển. Lễ hội gồm 2 phần: phần lễ được tổ chức theo nghi lễ truyền thống của người Hoa, sau đó là phần hội có múa lân, xin xăm. Trong khuôn viên rộng, trang hoàng rực rỡ, con cháu và khách thập phương tham dự đông vui.

Lễ Nguyên Tiêu: Tổ chức tại hội quán Triều Châu và Quảng Triệu vào ngày 16/01 âm lịch. Đây là lễ cúng đầu năm của hai bang Triều Châu và Quảng Đông của người Hoa tại Triều Châu. Ngoài phần nghi lễ truyền thống, trong lễ Nguyên Tiêu c̣n tổ chức múa lân, chơi xổ số. Lễ hội đă thu hút con cháu người Hoa và khách thập phương về dự.

Lễ Tế Cá Ông: Thường được tổ chức tại lăng Ông vào ngày kỵ của Cá Ông hoặc có cá Ông chết. Lễ tế cá Ông có nguồn gốc tín ngưỡng nguyên thủy của cư dân vùng duyên hải. Sau lễ tế có tổ chức hát bả trạo, hát bộ, hát ḥ khoan.

Lễ Cúng Tổ Minh Hải: Tổ chức tại chùa Chúc Thánh vào ngày 7/11 âm lịch hàng năm. Lễ cúng tổ Minh Hải bao gồm các nghi lễ liên quan đến Phật giáo. Sau phần lễ là các hoạt động vui chơi, giải trí như văn nghệ, cắm trại và thi các tṛ chơi dân gian.

Trở Lại

     -o0o-

 

Xin gởi bài mới và ư kiến đóng góp về Tạng Thư Phật Học qua địa chỉ email: tangthuphathoc@gmail.com