Đà Nẵng
ĐỊA LÝ
Diện
tích: 1254,32km2.
Dân số (2004): 729.786 người.
Các quận nội thành: Hải Châu, Thành Khê, Sơn Trà,
Ngũ Hành Sơn, Liên Chiểu; 2 huyện: Hòa Vang và Hoàng
Sa.
Dân tộc: Việt (Kinh), Hoa.
Thành phố Đà Nẵng nằm ở trung độ đất nước, trên trục
đường bộ, đường sắt, đường thủy và
đường
hàng không của cả nước và khu vực. Phía Bắc giáp Huế,
phía Tây và Nam giáp Quảng Nam, phía Đông giáp biển
Đông.

Địa hình thành
phố Đà Nẵng khá đa dạng: phía Bắc là
đ
èo
Hải Vân hùng vĩ, vùng núi cao thuộc huyện Hòa Vang (phía
Tây Bắc của tỉnh) với núi Mang 1.708 m (5,125 ft),
núi Bà Nà 1.487 m (4,461 ft). Phía Đông là bán đảo
Sơn Trà hoang sơ và một loạt các bãi tắm biển đẹp
trải dài từ bán đảo Sơn Trà
đến
bãi biển Non Nước. Phía Nam có núi Ngũ Hành Sơn.
Ngoài khơi có quần đảo Hoàng Sa với ngư trường rộng
lớn. Nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, chia hai mùa
rõ rệt, mùa mưa và mùa khô. Nhiệt độ trung bình năm
từ 28 - 29
°
C, bão thường đổ bộ trực tiếp vào thành phố các
tháng 9, 10 hàng năm.
Thành phố Đà
Nẵng được thành lập từ năm 1888, từ xa xưa đã là hải
cảng quan trọng của Việt Nam, nay là một trung tâm
kinh tế, một thành phố lớn nhất miền Trung. Đà Nẵng
không chỉ gắn bó mật thiết với Quảng Nam mà còn với
cả miền Trung, Tây Nguyên, Nam Lào, Đông Bắc Cam-pu-chia.
Đà Nẵng có khu vực cảng Đà Nẵng với cảng biển Tiên
Sa (cảng sâu) và 9 cầu cảng dọc sông Hàn, có sân bay
quốc tế Đà Nẵng, có hệ thống thông tin liên lạc hiện
đại. Đà Nẵng còn là nơi hội tụ các xí nghiệp lớn của
các ngành dệt, sản xuất hàng tiêu dùng, công nghiệp
chế biến, công nghiệp cơ khí, công nghiệp sản xuất
vật liệu xây dựng...
Đến với vùng
đất Đà Nẵng, du khách sẽ có dịp đi thăm các danh lam
thắng cảnh nổi tiếng như núi Bà Nà, Ngũ Hành Sơn, đ
èo
Hải Vân... và có thể bơi lội thỏa thích ở các bãi
biển đẹp, cát trắng mịn kéo dài hàng chục km. Tiềm
năng du lịch của vùng đất Đà Nẵng thật to lớn.
THẮNG CẢNH
Đèo Hải Vân:
Đèo Hải Vân nằm trải dài theo
sườn núi Hải Vân có chiều dài khoảng 20 km (13
miles) kéo dài từ địa phận Thừa Thiên Huế đến địa
phận Đà Nẵng. Dãy núi Hải Vân là một bức tường thành
thiên nhiên quan trọng ngăn các đợt gió mạnh từ
phương Bắc tràn về. Vì vậy, các tỉnh từ Đà Nẵng,
Quảng Nam trở vào hầu như quanh năm ấm áp và không
có mùa Đông. Khách qua đây đều được chiêm ngưỡng một
thắng cảnh đẹp nổi tiếng "Thiên hạ đệ nhất hùng quan".
Từ trên độ cao 496 m (1,488 ft) của đỉnh đ
èo
Hải Vân, du khách có thể ngắm nhìn toàn cảnh thành
phố Đà Nẵng và cảnh thanh bình của làng chài Lăng Cô
(ở chân đ
èo
phía Bắc đ
èo
Hải Vân). Từ bao đời nay, Hải Vân là nguồn cảm hứng
vô tận đối với các nhà văn, nhà thơ Việt Nam.
Thủy Sơn:
Nằm trên một khoảng đất rộng
chừng 15 ha, có hình dáng một khối đá dựng đứng,
đỉnh núi kéo dài chia thành 3 ngọn: Thượng Thai,
Trung Thai và Hạ Thai tạo thành hình sao Tam Thai,
vì vậy trên núi có ngôi chùa cũng mang tên Tam Thai.
Các động đẹp như động Linh Nham, Vân Thông, Tàng
Chơn, động Huyền Không... đều nằm trong ngọn núi
Thủy Sơn.
Ngũ Hành Sơn:
Cách thành phố Đà Nẵng về phía
Đông Nam khoảng 8 km (5 miles). Đây là một cụm gồm 5
ngọn núi đá hoa cương nằm kề với biển. Vì núi ở đây
sát với biển, nên nhân dân thường gọi là hòn Non
Nước (nghĩa là núi và nước). Đầu thế kỷ 19, vua Gia
Long đi qua đã đặt tên cho cụm núi này là Ngũ Hành
Sơn và
đặt
tên cho từng ngọn núi là Kim Sơn, Mộc Sơn, Thủy Sơn,
Hỏa Sơn và Thổ Sơn. Ngọn núi lớn nhất và
đẹp
nhất là Thủy Sơn.
Động Tàng Chơn:
Nằm phía sau chùa Linh Ứng
thuộc ngọn Thủy Sơn. Động Tàng Chơn được phát hiện
vào thời Lê Cảnh Hưng. Động chính giống như một
thung lũng nhỏ, chiều dài 10 m ( 30 ft) chiều ngang
7 m (21 ft), thoáng đãng nhờ thông lên trời qua cửa
hang "Thiên Long Cốc". Giữa động có miếu thờ Thái
Thượng Lão Quân, bên trái thờ Bát Bộ Kim Cương, bên
phải thờ Thần Chiêm Thành. Ngoài ra còn có năm động
nhỏ khác là
động
Tam Thanh, Hang Gió, động Chiêm Thành, động Bàn Cờ,
hang Ráy. Động Tam Thanh trước kia thờ 3 vị thánh là
Thượng Thanh, Trung Thanh, Hạ Thanh. Kế tiếp là hang
gió bởi nơi đây quanh năm lộng gió.
Động Chiêm Thành có hình bán nguyệt, thờ các vị thần
Chiêm Thành của vương quốc Chămpa ngày trước. Từ
động chính leo lên khoảng 5 m là tới hang Ráy. Đá
nơi đây có màu ngũ sắc, sáng lung linh. Cuối cùng là
động
Bàn Cờ, tương truyền là nơi các vị tiên hay xuống
đây đánh cờ trên bộ bàn ghế đá trong động. Trải qua
hàng nghìn năm, động Tàng Chơn, được coi là
động
lưu giữ mọi chân lý của vũ trụ, vẻ đẹp nguyên thủy
của nó dường như không thay đổi. Chân núi Ngũ Hành
Sơn có làng đá Quan Khái và Hòa Khuê, dân làng có
nghề đục đá gia truyền, họ làm ra nhiều sản phẩm đá
mỹ nghệ phục vụ khách du lịch và nhân dân trong cả
nước.
KINH TẾ
Dân
số thành phố hiện nay khoảng 400,000, nhưng Đà Nẵng
vẫn là một trung tâm thương mại năng động của miền
Trung. Đà Nẵng là một trong những trung tâm kinh tế,
thương mại và du lịch quan trọng nhất nằm trên trục
giao thông đường hàng không và
đường hàng
hải, có sân bay quốc tế và hệ thống biển cảng sâu,
lại thêm nền nông nghiệp đầy triển vọng với bờ biển
dài 150 km.
Thành phố Đà Nẵng có nhiều
bãi tắm đẹp, cát trắng, nước biển xanh trong, khí
hậu quanh năm mát, là một nơi nghỉ mát tuyệt vời và
rất thuận lợi cho các môn thể thao dưới nước. Ngay
cạnh bãi biển Non Nước là những núi đá cẩm thạch với
nhiều hang động tự nhiên và các chùa chiền cổ kính,
rất thu hút du khách tới viếng thăm.
LỊCH SỬ
Trước
khi người Pháp đến trung tâm của vùng Hội An, một
cảng sông nhỏ. Hải quân Pháp "ưa thích" vịnh Đà Nẵng
rộng rãi hơn và tại đây năm 1847 quân Pháp nổ những
phát súng xâm lược đầu tiên. Năm 1858 mười bốn chiếc
thuyền Pháp và Tây Ban Nha chiếm Đà Nẵng làm bàn đạp
lên đánh kinh đô Huế. Triều đình cử ông Nguyễn Tri
Phương vào đắp lũy cầm cự đến năm 1860 quân Pháp rút
đi. Trên bán đảo Sơn Trà nay vẫn còn những ngôi mộ
lính Pháp và Tây Ban Nha chết trong giai đoạn này.
Thành phố Đà Nẵng được thành lập năm 1888, nằm ngay
trên bờ sông Hàn.
Đà Nẵng là nơi quân Pháp
khởi sự gây hấn để mở đầu cho việc xâm lăng nước ta.
Đầu năm năm 1874, chúng ngang nhiên mang hai chiến
hạm đậu ngoài cửa biển Đà Nẵng sinh sự. Ngày 15-4,
chúng nổ súng trong hai giờ liền rồi bỏ đi. Ngày
16-9-1856, Pháp lại đến, bắn phá đồn lũy ở bán đảo
Sơn Trà, rồi đổ bộ vùng biển. Quan quân triều đình
lui về tử thủ thành An Hải và các đồn lân cận, không
cho giặc tiến thêm, sau chúng phải rút.
Ngày 30-8-1858, Pháp sai
tên Trung tướng Genouilly đem 3.000 quân và 17 chiến
tàu của Pháp và Y Pha Nho đến chiếm Đà Nẵng. Các đồn
chính Nại Hiên, Tôn Hải, An Hải thất thủ. Đô thống
Lê Đình Lý chống trả kịch liệt và bị trọng thương.
Triều đình khẩn cấp cử hai dũng tướng Nguyễn Tri
Phương và Phạm Thế Hiển từ trong Nam ra Đà Nẵng
chống giữ. Hai ông cho lập đồn Liên Trì và
đắp
phòng tuyến dài từ Hảøi Châu đến Phúc Ninh, giặc
thấy bất lợi, giữ lại một số quân, rồi mang tàu
chiến đi đánh Gia Định. Ngày 7-2-1859, quân ta tiến
đánh đẩy giặc ra ngoài biển. Chúng phải tăng cường
lực lượng tấn công nhưng bị sập hầm chông tổn thất
nặng. Pháp phải xin nghị hòa và rút khỏi Đà Nẵng để
dồn quân chiếm phía Nam nước ta.
DI TÍCH
Chùa Linh Ứng:
Nằm bên sườn Thủy Sơn
trông ra hướng biển. Chùa xây từ thời vua Minh Mạng.
Trải qua năm tháng chùa bị hư hỏng nhiều. Năm 1970,
các Tăng ni, Phật tử góp công của xây lại chùa mới
như ngày nay. Trong chùa có bộ tượng La Hán bằng đá
trắng. Bên phải chùa là Vọng Hải Đài (đ
ài
ngắm biển). Đứng ở đ
ài
này nhìn rõ biển Non Nước mênh mông.
Chùa Pháp Lâm:
Tọa lạc tại số 500, phố
Ông Ích Khiêm, thành phố Đà Nẵng. Chùa Pháp Lâm khởi
công xây dựng từ năm 1936, do một nhóm cư sĩ trí
thức của An Nam Phật học - chi hội Đà Nẵng đứng ra
xây dựng. Chùa được trùng tu năm 1970. Trước kia
chùa là trụ sở của "Hội An Nam Phật Học", chi hội Đà
Nẵng. Chùa xây dựng theo phong cách Á Đông, trên
diện tích khoảng 3.000 m2 (27,000 square ft) với các
kiến trúc đặc trưng của Phật giáo Việt Nam.
Bảo Tàng Chàm:
Bảo tàng nằm trong khu
vực yên tĩnh của thành phố Đà Nẵng, ở điểm giao hữu
giữa đường Trưng Nữ Vương và
đường
Bạch Đằng. Bảo tàng được lập ra từ năm 1915, lúc đầu
bảo tàng có tên là Hăng-Ri-Pac-Măng-Chi-Ê về sau đổi
tên thành bảo tàng Chàm. Kiến trúc nhà xây mô phỏng
những đường nét kiểu tháp Chàm. Đây là bộ sưu tập
cuối cùng của văn hóa Chàm trên thếgiới. Hiện nay
bảo tàng được mở rộng tu sửa khang trang để trưng
bày các hiện vật điêu khắc Chàm bằng đá và
đất
nung (có niên đại từ thế kỷ 7 đến thế kỷ 15) khai
quật được từ Quảng Bình đến Bình Định.
Bảo tàng được chia theo 2 giai đoạn chính: trước thế
kỷ 10 và từ thế kỷ 10 đến thế kỷ 16, thời kỳ chấm
dứt của vương quốc Chămpa. Các hiện vật phát hiện
tại Đồng Dương, Khương Mỹ, Mỹ Sơn, Trà Kiệu, Tháp
Mẫm (Bình Định) và một số nơi khác, chủ yếu ở khu
vực Đà Nẵng và Quảng Nam, được trưng bày vào 4 phòng
mang tên địa danh tìm thấy được hiện vật. Từ phía
sân trước đi vào, phòng bên trái trưng bày các công
trình điêu khắc Chàm tìm thấy ở thánh địa Mỹ Sơn (Thánh
Đô). Các bức tượng lớn của thần Siva, tượng nữ thần
Uma (vợ của Siva), các bức tượng chạm nổi cảnh sinh
hoạt của các tầng lớp tăng lữ, quí tộc. Phòng tiếp
theo là các cảnh sinh hoạt của người Chàm ở kinh
thành Trà Kiệu (Simpura).
Sau khu Trà Kiệu là nơi trưng bày các tượng Phật,
tượng Hộ Pháp... tương đối lớn được phát hiện ở Đồng
Dương. Phần bên phải của bảo tàng (đối diện với phần
Mỹ Sơn) là những di tích tìm được ở Chà Bàn (Bình
Định) với các tượng thần, vũ nữ, nhạc công... Qua
300 tuyệt tác nguyên bản được trưng bày, bảo tàng
Chàm Đà Nẵng còn khắc họa một giai đoạn lịch sử vô
cùng quan trọng của vương quốc Chămpa trong đó có
thời kỳ cực thịnh sáng chói nhất.
Chùa Phổ Đà:
Tọa lạc tại 332 Phan Châu
Trinh, Đà Nẵng, được khởi dựng vào năm 1927. Tổ khai
sơn là Hòa thượng Thích Tôn Thắng. Chùa được trùng
tu vào các năm: 1937, 1945, 1983. Hệ phái gốc: chính
tông Phật giáo. Chùa Phổ Đà
được
xây dựng theo hình chữ "Khẩu", bao gồm chánh điện,
hai bên là nhà khách, nhà thiền và giảng đường.
Trong chánh điện thờ 3 tượng Phật bằng đồng được đúc
vào năm 1947. Sân trước chánh điện rộng 500 m2
(4,500 square ft), giữa có hồ rộng hình bầu dục,
giữa hồ là tượng Quan Thế Âm cao hơn 3 m (9 ft) đứng
trên hòn non bộ lớn. Phổ Đà là một ngôi chùa nổi
tiếng vì đây là nơi đ
ào
tạo Tăng ni của tỉnh hơn 3 thập kỷ qua. Trước có tên
là chi nhánh Phật học viện trung phần. Năm 1961 đổi
tên là chùa Phổ Đà. Hiện nay chùa là nơi đặt trường
cơ bản Phật học của khu vực Quảng Nam - Đà Nẵng.
LỄ HỘI
Đà
Nẵng là một vùng đất cổ, gắn liền với văn hóa Sa
Huỳnh thời Lý cách đây 3.000 năm. Những cư dân ban
đầu đó chính là tổ tiên của người Chăm đã dựng nên
vương quốc Chămpa một thời phát triển rực rỡ. Bao
nhiêu cung điện, đền đ
ài,
thành quách uy nghi, tráng lệ từ thế kỷ 1 đến thế kỷ
13 nay vẫn còn là dấu tích và nhiều hiện vật được
trưng bày tại bảo tàng Chàm, Đà Nẵng.
Lễ Hội Quan Thế Âm - Ngũ
Hành Sơn: Chùa Quan
Thế Âm nằm dưới chân Ngọn Kim Sơn thuộc dãy núi Ngũ
Hành Sơn (thành phố Đà Nẵng). Hàng năm nhân dân Đà
Nẵng mở lễ hội truyền thống vào ngày 19 tháng 2 âm
lịch. Lễ hội diễn ra trong 3 ngày với qui mô lớn.
Phần lễ: Mang màu sắc lễ nghi Phật giáo với các lễ
dâng hoa, lễ rước ánh sáng, lễ cầu nguyện, lễ thuyết
giảng về Bồ Tát Quan Thế Âm và
đại nguyện
của Ngài.
Phần hội: Có nhiều sinh hoạt văn hóa mang đậm đ
à
bản sắc dân tộc như hội hóa trang, hát dân ca, thi
cờ, nhạc, họa, điêu khắc, múa tứ linh, thả đ
èn
trên sông, hát tuồng.
Cùng trong dịp này, ban tổ chức còn vận động quyên
góp lương thực, quần áo, tiền, thuốc men để giúp cho
những người nghèo đói.
Lễ Hội Cá Ông:
Lễ hội Cá Ông (còn được gọi là
lễ tế cá Voi) là lễ hội lớn nhất của cư dân Đà Nẵng
và khu vực. Thờ phụng Cá Ông ở miền đất này không
chỉ được xem là sự tôn kính thần linh mà còn gắn
liền với sự hưng thịnh của cả làng cá. Lễ hội diễn
ra trong hai ngày vào trung tuần tháng 3 âm lịch
hàng năm. Ngày đầu các nhà
đều
bày hương án để tế lễ. Lễ cầu an được tổ chức vào đ
êm
đầu tiên tại làng. Sáng sớm hôm sau, dân làng làm lễ
rước trên biển, có dàn nhạc trình diễn, hát bội.
Trong hai ngày hội, các tàu thuyền đều tập trung về
bến để tham gia lễ hội.