Quảng Trị

ĐỊA LƯ

Diện tích: 4.592 km2.
Dân số (2004): 588.681 người.
Tỉnh lỵ: Thị xă Đông Hà.
Các huyện: Thị xă Quảng Trị; Huyện: Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, Triệu Phong, Hải Lăng, Hương Hóa, Đa Krong.
Dân tộc: Việt (Kinh), Bru - Vân Kiều, Paco, Tà Ôi, Nùng, Xtiêng, Xu Đăng.

Tỉnh Quảng Trị phía Bắc giáp Quảng B́nh, phía Đông giáp Đông Hải, phía Nam giáp tỉnh Thừa Thiên Huế, phía Tây là dăy Trường Sơn và nước Lào. Diện tích 4700 km2. Tỉnh lỵ Quảng Trị cách thành phố Hà Nội 598 km (374 miles) về hướng Nam, cách thành phố Huế 55 km (34 miles) và cách Sài G̣n 1227 km (767 miles) về hướng bắc.

Về h́nh thể, đất tỉnh chia làm hai, phía Đông là đồng bằng hẹp, phía Tây là rừng núi thuộc Trường Sơn, chiếm gần hai phần ba diện tích tỉnh. Từ bắc xuống nam có các núi; Đông Châu 1254 m (3,762 ft) (ranh giới với tỉnh Quảng B́nh ở phía Bắc). Đồng Sa Mùi 1200 m (3,600 ft), Đồng Voi Mệp 1701 m (5,103 ft), Động Tou Troen 928 m (2,784 ft), Động Ca Lư 710 m (2,130 ft), Phou Nhoi 690 m (2,070 ft), Giang Gro 771 m (2,313 ft), Ta Laou 821 m (2,463 ft), Động Bà Lệ 1102 m (3,306 ft) (ranh giới với tỉnh Thừa Thiên ở phía Nam), Cây Tre 485 m (1,455 ft),... các núi phía Đông chỉ cao độ 300 đến 600 m (1,800 ft).

Ba sông chính của tỉnh là Bến Hải, Cam Lộ và Sông Hàn. Sông Bến Hải phát nguồn từ dăy Trường Sơn ra đến biển ở cửa Tùng, dài 75 km (47 miles). Sông Hàn (c̣n gọi là sông Thạch Hàn và sông Quảng Trị) chảy từ phía Nam quận Triệu Phong ngược lên phía Bắc ở quận Hương Hóa và quận Cam Lộ, rồi đổ ra cửa Việt. Phía tả ngọn có các sông Hiếu Giang, Vĩnh Phước, Ái Tử chảy vào, phía hữu ngạn có sông đào Vĩnh Định, sông Cam Lộ (gọi là con sông Bồ Điền) là con sông đào nối sông Bến Hải với sông Thạch Hăn, chảy qua hai quận Hương Hóa và Cam Lộ. Ngoài ra tỉnh c̣n có một số ḍng sông nhỏ như Rao Quan, Da Krong, Mỹ Chánh, Nhung Giang, Trịnh Hin, Rào Vĩnh... Bờ biển Quảng Trị dài 66 km (41 miles), ngoại trừ vùng cửa Tùng lởm chởm đá, suốt bờ biển đều bằng phẳng và có nhiều cát, các bờ biển không kín đáo nên không thành lập được các hải cảng.

Khí hậu Quảng Trị đỡ khắc nghiệt hơn một số tỉnh lân cận, cũng với hai mùa mưa nắng. Mùa nắng từ tháng ba đến tháng bảy, thời tiết oi bức, mùa hè có gió Lào thổi về càng làm không khí thêm ngột ngạt và nặng nề. Mùa mưa từ tháng tám đến tháng hai. Tháng chuyển tiếp thường có mưa lớn nên thường có lụt lội. Mưa ở đây có ảnh hưởng của gió bấc, tháng tám đến tháng mười hai có mưa rào, mưa rào liên tục đổ xuống ào ạt, làm nước sông dâng lên gây lụt lội thường xuyên. Từ tháng giêng đến tháng hai có mưa phùn và gió bấc.

THẮNG CẢNH

Khu danh thắng Đakrông: Là tên gọi chung cho một khu vực có khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, trữ t́nh của vùng núi phía Tây Quảng Trị. Ở đó có sông Đakrông xinh đẹp ẩn náu trong ḿnh những huyền thoại đầy chất sử thi và nhân văn, có cầu Đakrông duyên dáng giữa ngút ngàn trời mây, sông nước, núi rừng và có mỏ nước khoáng tự nhiên.

Cửa khẩu Lao Bảo: Là một cửa khẩu quan trọng giữa Việt Nam và Lào, gần nơi có nhà tù Lao Bảo của Pháp xây để giam giữ các chiến sĩ cách mạng. Lao Bảo cách thị xă Đông Ḥa khoảng 80 km (50 miles), ngay cạnh sông Sêpôn. Chợ Lao Bảo cách cửa khẩu biên giới 2 km (1.25 miles). Nhiều hàng hóa của Thái Lan mang từ Lào sang được buôn bán ở đây. Chợ ở đây tương đối sầm uất, hàng hóa phong phú. Lao Bảo cách Thái Lan 950 km (594 miles). Từ 1993, Lao Bảo trở thành một cửa khẩu quốc tế quan trọng và du lịch giữa Lào, Thái Lan với các tỉnh miền Trung Việt Nam.

Cửa Tùng: Cửa Tùng là một băi biển đẹp, nơi nghỉ mát lư tưởng của tỉnh Quảng Trị và là cửa của sông Bến Hải đổ ra biển. Băi tắm cửa Tùng không rộng và dài nhưng mang một vẻ đẹp rất riêng. Băi biển bằng phẳng, nước trong xanh, cát mịn. Biển lúc nào cũng lộng gió.

Cửa Tùng như một bức tranh sinh động, thay đổi màu sắc từng giờ dưới ánh nắng mặt trời. Thật thú vị khi được ngồi trên thuyền xuôi ḍng Bến Hải để ngắm nh́n cảnh sắc nơi đây. Từ chân cầu Hiền Lương, thuyền sẽ đưa du khách lướt nhẹ trên ḍng nước trong xanh, sóng gợn lăn tăn, ŕ rào gió thổi. Dọc hai bên bờ sông là màu xanh mướt của những ruộng lúa, ngô, màu xanh đậm của các lũy tre, các rặng phi lao và các làng xóm mờ xa.

Vào buổi chiều tà, du khách có thể thỏa sức ngắm nh́n những đàn hải âu nhởn nhơ chao liệng đùa giỡn trên những làn sóng thẫm xanh. Đêm đến là thời gian của gió trời và nhạc biển. Tiếng sóng ́ ầm ḥa với tiếng reo triền miên của rặng phi lao và các làng xóm mờ xa đưa du khách vào giấc ngủ êm đềm. Cửa Tùng thật đúng là một nơi nghỉ dưỡng và nghỉ mát tuyệt vời. Điểm du lịch này hiện nay đang hấp dẫn du khách gần xa.

Rú Lịnh: Là khu rừng tiêu biểu cho rừng rậm nhiệt đới. Thảm thực vật ở Rú Lịnh thuộc kiểu rừng khép kín, xanh tốt quanh năm với số lượng và chủng loại phong phú có nguồn gốc chủ yếu từ khu hệ thực vật đệ tam Việt Bắc - Hoa Nam với khoảng 200 loại, trong đó có 72 loại họ gỗ với các loại gỗ quí hiếm. Động vật khá đa dạng, có trên 13 loại thú và 60 loại chim quư. Đây là nơi du lịch sinh thái lư tưởng.

Suối nước nóng Tân Tâm: Đây là một con suối tự nhiên thuộc hệ chi lưu ở thượng nguồn sông Hiếu. Hai chi lưu thượng nguồn sông Hiếu chảy ṿng, vươn cánh tay ôm ấp cả một khu vực rộng lớn và cũng chính là đường giao thông thủy vô cùng thuận lợi. Nổi lên giữa không gian kỳ vĩ ấy là lèn đá vôi, trong lèn có nhiều hang động đẹp. Ở bờ trái của sông Hiếu có rất nhiều mạch nước nóng có trữ lượng và hàm lượng tuyệt vời. Đây sẽ là điểm du lịch hấp dẫn và nơi chữa bệnh rất lư tưởng.

Tháp Trung Đan: Ngôi tháp cổ ở xă Trung Đan, huyện Triệu Phong. Tháp cao hơn 30 m (90 ft). Trèo lên đỉnh tháp có thể nh́n thấy toàn cảnh trong vùng. Đây là một danh thắng của tỉnh.

KINH TẾ

Người kinh sống phần đông ở đồng bằng. Trên những vùng cao có các sắc dân Tôi Oi (c̣n gọi là Pacoh), Vân Kiều, Khu Tu và đồng bào gốc Chàm, Hoa. Dân ta theo Phật, Thiên Chúa, thờ phụng Tổ Tiên, Thần Linh.

Tại miền đồng bằng, lúa vẫn là hoa màu chính, có hai vùng trồng lúa tốt tập trung ở Triệu Phong và Hải Lăng. Nông dân làm ba vụ mùa vào tháng ba, tháng tám và tháng mười. Các loại lúa Hẻo Thơm, Hẻo Rằng, Chiên Trắng, Chiên Đỏ... nổi tiếng thơm ngon. Hoa màu phụ có sắn bắp, đậu nành, mè, tiêu, đậu phộng... trồng nhiều ở Vĩnh Linh, Gio Linh, Cam Lộ, Tiệu Phong, Hải Lăng, Ba Ḷng. Tiêu Quảng Trị mùi rất thơm và vị rất cay. Ngoài ra quận Gio Linh có nhiều vườn trồng trái cây. Rừng Quảng Trị có các loại gỗ, hoàng đàn, mít, tre, nứa, dạ hương, kền kền, mây và các đặc sản khác như mật ong, sáp ong và cây làm thuốc. Rừng cũng có nhiều loại thú như voi, cọp, tê giác, nai, khỉ, gấu.

V́ gần biển nên dân chúng cũng theo nghề đánh cá nhưng gặp khá nhiều v́ mùa mưa thường kéo dài. Dân chúng c̣n làm nghề nước mắm và muối. Trong số các hoạt động tiểu công nghiệp trong tỉnh, nghề chạm khảm xà cừ ở Cát Sơn phổ biến các sản phẩm nhất nước. Khoáng sản trong tỉnh chỉ có đá, sạn ở vùng núi và cát trắng ở bờ biển có thể dùng cho kỹ nghệ thủy tinh.
 

LỊCH SỬ

Vùng đất Quảng Trị xưa đă là đất Lập Quốc, một phần của bộ Việt Thường, một trong 15 bộ của nhà nước Văn Lang. Năm 1509, vua Lư Thánh Tông đánh Chiêm Thành và bắt được Chế Củ. Chế Củ liền dâng ba châu Địa Lư, Ma Linh và Bố Chính (bây giờ là Quảng B́nh, Quảng Trị). Năm 1306, vua Chiêm Thành là Chế Mân dâng hai Châu Ô và Châu Ri làm sính lễ xin cưới Huyền Trân Công Chúa. Năm 1037, vua Trần Nhân Tông đổi Châu Ô làm Châu Thuận, Châu Ri làm Châu Hóa. Châu Thuận gồm đất Phong Điền, Triệu Phong, Hải Lăng, Châu Hóa gồm có Quảng Điền, Hương Trà, Diên Phước, Ḥa Vang. Hai châu thuộc lộ Thuận Hóa.

Thời Minh thuộc, chúng sát nhập hai châu Thuận và Hóa thành phủ Thuận Hóa. Đến đời Lê, vùng này thuộc phủ Triệu Phong, xứ Thuận Hóa. Đến tháng mười năm Mậu Ngọ (1558), chúa Nguyễn Hoàng được cử làm trấn đất Thuận Hóa, lập đ́nh ở Ái Tử thuộc phủ Triệu Phong. Tên Quảng Trị có từ năm 1804. Đời Gia Long là dinh Quảng Trị. Năm 1831, Minh Mạng đặt làm trấn, sau đổi làm tỉnh. Sau đó Tự Đức cải làm đạo, nhưng lại đổi thành tỉnh vào năm 1876.

Thời Pháp thuộc, anh hùng Tôn Thất Thuyết giữ chức Phụ Chính, pḥ vua Hàm Nghi, không chấp nhận sự xâm lược của quân Pháp, ông mộ tập quân sĩ pḥng thủ kinh đô, đồng thời bí mật xây dựng chiến khu vùng Tân Sở thuộc quận Hương Hóa. Ngày 5-7-1885, kinh thành Huế thất thủ, ông Thất Thuyết cùng hai người em là Tôn Thất Đạm và Tôn Thất Thiệp rước vua Hàm Nghi vào chiến khu Tân Sở, rồi thảo hịch "Cần Vương" gởi đi khắp nơi kêu gọi thần dân sĩ tử đứng lên kháng Pháp. Tại Quảng Trị , có các anh hùng Trương Đ́nh Hội, Nguyễn Tự Như dựng cờ khởi nghĩa, đem quân quấy phá giặc Pháp khắp tỉnh. Năm 1908, đồng bào Quảng Trị đă cùng với dân chúng khắp các tỉnh nổi lên biểu t́nh chống thuế và chống lệnh bắt đi phu cho Pháp. Sau hiệp định Geneve năm 1954, đất nước bị chia cắt làm đôi lấy sông Bắc Hải (vĩ tuyến 17) làm ranh giới.

Trước năm 1975, Quảng Trị có các quận như Gia Linh, Trung Lương, Hương Hóa, Hải Lăng, Cam Lộ, Mai Lĩnh và Triệu Phong.
 

DI TÍCH

Chùa Sắc Tứ:

Chùa có tên chữ là Tịnh Quang tự, ở xă Ái Tử, huyện Triệu Phong. Chùa do hoà thượng Tu Pháp dựng vào năm 1739 đời vua Lê Ư Tông, đặt tên chùa là Tịnh Nghiệp. Đến đời vua Gia Long được đặt tên là Tịnh Quang. Chùa được trùng tu năm 1941 và đến năm 1975, được xây dựng lại. Hiện nay chùa chỉ c̣n lại một hiện vật cổ có giá trị nghệ thuật là pho tượng đức phật A Di Đà.

Vương Cung Thánh Đường La Vang: Nhà thờ ở cách thành cổ Quảng Trị 6 km (3.8 miles) về phía tây, là nơi "cứu rỗi linh hồn" của đồng bào theo Kitô giáo dưới thời vua Cảnh Thịnh (1793 - 1801). Tương truyền rằng Đức Mẹ Đồng Trinh Maria hiện h́nh nơi đám cỏ trên ba gốc đa to để cứu rỗi những linh hồn vướng nạn đang ngày đêm nguyện cầu ơn cứu rỗi của Đức Mẹ. Nhà thờ Đức Mẹ La Vang được xây dựng vào những năm đầu của triều vua Minh mạng.

Năm 1886, nhà thờ được xây dựng lại khang trang hơn và đến năm 1900 mới hoàn thành. Đến năm 1924, nhà thờ được xây dựng lại lớn hơn. Vào năm 1961, nhà thờ La Vang được giáo hội phong là "Vương Cung Thánh Đường La Vang".

Sông Bến Hải - cầu Hiền Lương: Sông Bến Hải đoạn trên thượng nguồn có tên là sông Rào Thanh, bắt nguồn từ dăy Trường Sơn chảy đến Cửa Tùng dài khoảng 100 km (62.5 miles), thuộc địa phận tỉnh Quản trị. Ḷng sông nơi rộng nhất khoảng 200 m (600 ft), nơi bắt cầu Hiền Lương rộng 170 m (510 ft).

Theo Hiệp định Genève 1954 về Việt Nam: sông Bến Hải và vĩ tuyến 17 được chọn làm giới tuyến quân sự tạm thời và cầu Hiền Lương bắt qua sông cũng chia làm hai nửa. Cầu Hiền Lương do công binh Pháp dựng năm 1950 (trước đấy dân hai bờ qua lại bằng thuyền). Cầu có 7 nhịp, và có chiều dài 178 m (534 ft), được lát bằng 894 miếng ván.

Đền anh hùng Trần Nhật Duật: Thuộc Xă đơn Huệ, huyện Vĩnh Linh. Những năm anh hùng dân tộc Trần Nhật Duật theo vua Trần Anh Tông đánh chiếm Chiêm Thành, ông đă không để cho quân lính nhiễu hại dân lành. Ghi ơn công đức này, dân chúng đă lập đền thờ.

Mộ anh hùng Lâm Hoằng: Xây tại làng Gia B́nh, quận Gio Linh. Anh hùng Lâm Hoằng hy sinh đền nợ nước trong trận huyết chiến bảo vệ thành Trấn Hải chống thực dân Pháp xâm lượt ở cửa biển Thuận An, tỉnh Thừa Thiên.

Di tích thắng cảnh tích thành Tân Sở: Thuộc quận Hương Hoá, do anh hùng Tôn Thất Thuyết dựng lên để chiêu mộ nghĩa quân đánh thực dân Pháp. Thành Tân Sở (Tân Sài) xây h́nh vuông, mỗi chiều dài 1 km (0.7 miles), nay chỉ c̣n vết tích lờ mờ, những dăy hào luỹ bị san bằng.

Thành Quảng Trị: Trước đây tỉnh Quảng Trị nằm trong quận Triệu Phong. Năm 1809 vua Gia Long định đô tại xă Thạnh Hăn, rồi cho đắp thành bằng đất chung quanh kinh đô. Năm 1938 Minh Mạng phá đi và xây lại bằng gạch cao 5 m (15 ft), dày 5 m (15 ft).

Động Cồn Tiên: Động trên một ngọn đồi cao thuộc quận Gio Linh. Tục truyền đây là chỗ các ông Tiên đánh cờ nên mới gọi là động Cồn Tiên. Trên đồi có phiến đá h́nh con voi quỳ, cao 3 m (15 ft), rộng 2 m (6 ft), dài 4 m (12 ft), trên đá có khắc một bàn cờ tướng. Nơi đây cảnh rất tĩnh mịch và thanh nhă.

Đền Nữ Thần Chiêm Thành: Thuộc thôn Dương Lệ Đông, quận Triệu Phong. Đền tương đối nhỏ bên trong thờ tượng Nữ Thần Chiêm Thành. Tượng được khắc theo lối tả chân thật đẹp, tạc trên một loại đá láng bóng. Dưới sân đền có một hồ nhỏ vuông vức, nước luôn luôn đầy quanh năm.

Đền Thần Trảo: Thuộc thôn Ái tử quận Triệu Phong. Đền do chúa Nguyễn Hoàng xây dựng để tạ ơn "Nữ Thần Sông Ái Tử" đă chỉ mỹ nhân kế giết được tướng Lập Bao nhà Mạc. Năm Thiệu Trị thứ hai (1842) có vịnh thơ khắc trên bia ghi lại sự tích này.

Huyện Hải Lăng: Quê Bùi Dục Tài, học rộng biết nhiều, giỏi thơ văn, đỗ tiến sĩ năm Cảnh Hưng thứ năm (1502).

LỄ HỘI

Quảng Trị là tỉnh có truyền thống văn hóa muôn màu muôn vẻ. Điển h́nh nhất là tiếng nói mang đặc điểm thổ ngữ vùng Trung bộ c̣n bảo lưu nhiều yếu tố cổ của tiếng Việt. Các phong tục khác nhau như ma chay, cưới xin, giỗ chạp với nghi lễ đơn giản. Chùa chiền được xây dựng ít. Chỉ có một số chùa như chùa Thạch Hải, chùa Đông Hà, chùa Linh Quang. Đặc biệt các dân tộc ít người cư trú ở địa phương này thường sử dụng cồng, chiêng, đàn Amam, nhị, đàn môi, trống, sáo. Họ có nhiều truyện cổ truyền miệng, có điệu hát "oát" là loại hát đối giao duyên nam nữ, Prdoak là hát vui trong sinh hoạt, Adang Kon là hát ru trẻ con. Lễ hội, lễ tết không cầu kỳ, ít hấp dẫn.

Hội Thượng Phước: Hội Thượng Phước thuộc xă Triệu Thượng, huyện Triệu Phong. Lễ hội mở ra hàng năm vào 3 ngày từ 13 đến 15 âm lịch để ghi nhớ công lao của Quan Công Hoàng Dũng, người đă có công lập làng Thượng Phước. Ngày 13, 14 tháng 3 âm lịch cả làng đi săn, lấy đầu muôn thú để làm lễ vật dâng cúng. Sáng ngày 15 tháng 3 âm lịch, làng bắt đầu tổ chức tế lễ. Cuộc tế lễ, dâng cúng kéo dài đến hết ngày 15.

Trở Lại

     -o0o-

 

Xin gởi bài mới và ư kiến đóng góp về Tạng Thư Phật Học qua địa chỉ email: tangthuphathoc@gmail.com