QUÊ HƯƠNG VIỆT NAM  

 

Quảng Bình

ĐỊA LÝ

Diện tích: 8.037,6 km2.
Dân số (2004): 817.963 người.
Tỉnh lỵ: Thị xã Đồng Hới.
Các huyện: Tuyên Hóa, Minh Hóa, Quảng Trạch, Bố Trạch, Quảng Ninh, Lệ Thủy.
Dân tộc: Việt (Kinh), Bru - Vân Kiều, Chứt, Lào...

Quảng Bình là tỉnh thuộc miền Trung, phía Bắc giáp Hà Tĩnh, phía Đông giáp biển Đông, phía Tây giáp Lào, phía Nam giáp Quảng Trị. Địa hình tương đối phức tạp, núi rừng sát biển tạo thành độ dốc cao dần từ đông sang tây. Đồng bằng nhỏ hẹp, chủ yếu tập trung theo hai bờ sông chính. Quảng Bình có nhiều sông ngòi. Bờ biển kéo dài 116 km (72.5 miles) với hai cảng lớn: cảng Gianh và cảng Nhật Lệ. Khí hậu mang tính chất nhiệt đới gió mùa, chia làm hai mùa: mùa khô và mùa mưa. Nhiệt độ trung bình cả năm khoảng 25-26° C. Thị xã Đồng Hới cách Hà Nội 491 km (307 miles) đường bộ, và 522 km (326 miles) đường xe lửa. Giao thông tương đối thuận tiện.

Quảng Bình có hai nhánh của dãy núi Trường Sơn phân chia thành hai khu vực: châu thổ sông Gianh ở phía Nam và một bình nguyên ở phía Bắc lan rộng đến Hà Tĩnh, nơi chân dãy núi Hoành Sơn Quan, Quảng Bình còn một khu vực thứ ba tạo nên dãy Trường Sơn với những đồi núi toàn rừng rậm.

Các đỉnh núi cao của Quảng Bình từ Bắc xuống Nam là núi Ba Ròng cao 1.137 m (3,411 ft), núi Đại Đù 890 m (2,670 ft), núi Ư Bo 1.000 m (3,000 ft), núi Co Ta Sun nằm sát biên giới giữa Việt - Lào cao 1.624 m (4,872 ft), núi Động Châu ở phía Tây - Nam, ở ngay biên hai tỉnh Quảng Bình - Quảng Trị cao 1.254 m (3,762 ft). Phía Đông có những đỉnh thấp hơn với độ cao khoảng 400 m (1,200 ft). Tỉnh lỵ Đồng Giới giáp ranh với hai dãy đồi dính liền núi Đầu Mâu thuộc dãy Trường Sơn. Về phía Tây là Đèo Mụ Già thông qua Lào.

Phía Bắc Quảng Bình có sông Ròn và Sông Gianh (còn gọi là Linh Giang hay Thanh Hà) rộng khoảng 800 m (2,400 ft), là con sông lịch sử được lấy làm ranh giới phân chia đất nước thời Trịnh - Nguyễn. Phía Nam là các sông Lý Hòa, sông Nhật Lệ và sông Dinh. Sông Nhật Lệ nhận nước Kiên Giang ở Hữu Ngạn rồi đổ ra cửa sông Nhật Lệ. Ở ngoài biển có vài hòn nhỏ nằm về phía Nam và Đông Nam mũi Độc như hòn La, hòn Gió, hòn Chùa, hòn Vũng, hòn Cồ.

Nằm ở cửa ngỏ đường vô xứ Huế, gối đầu lên đỉnh đèo Ngang thơ mộng, dải đất Quảng Bình trải ra như một bức tranh hoành tráng về non xanh nước biếc. Phong cảnh ở đây thật kỳ vĩ, sơn thủy hữu tình. Bờ biển Quảng Bình có những bãi cát vàng óng ánh dưới rừng dương xanh có nhiều bãi tắm đẹp, nước biển lung linh màu ngọc bích và chưa bị ô nhiễm. Động Phong Nha là một trong những hang động lớn và đẹp nhất ở Việt Nam.

Gió mùa Đông Bắc thổi từ tháng Mười đến cuối tháng Ba có mưa và trước khi đổi sang mùa nắng là mưa phùn. Gió mùa Đông Nam thổi từ tháng Tư đến cuối tháng Chín. Trong tháng Tám và tháng Chín thường có bão. Nhiệt độ trung bình ở tỉnh lỵ Đồng Hới 25.3° C.

THẮNG CẢNH

Động Phong Nha: Động nằm ở vùng núi đá vôi Kẻ Bàng, cách thị xã Đồng Hới 50 km (31 miles) về phía Tây Bắc. Từ Đồng Hới, đi ô tô đến xã Sơn Trạch, sau đó đi thuyền trên sông Son, khoảng 30 phút thì đến động. Động Phong Nha có chiều dài 13.000 m (39,000 ft) gồm 14 hang do con sông Ngầm hòa tan đá vôi tạo thành. Các hang động có chiều cao từ 10 đến 40 m (120 ft), ngay ở cửa hang có nhiều nhũ đá rủ xuống giống như hình những cái răng. Càng vào sâu bên trong, cảnh trí tự nhiên càng huyền ảo.

Cách đây mấy năm, một đoàn thám hiểm thuộc hội địa lý Hoàng Gia Anh, được sự cộng tác của khoa địa lý - địa chất trường đại học khoa học tự nhiên đã khảo sát động Phong Nha và một số hang động khác. Bằng phương tiện chuyên dùng, đoàn thám hiểm đã vào sâu trong động tới 4.500 m (13,500 ft). Càng vào sâu, Phong Nha càng kỳ vĩ lạ lùng, dòng sông ngầm chảy qua đã tạo nên những bãi bồi rộng lớn. Các nhà thám hiểm cho rằng đây là một trong rất ít động trên thế giới có ngầm dài như thế, một kỳ quan đầy hấp dẫn cho những nhà thám hiểm, những người làm khoa học về địa chất và thủy văn. Tháng 4 - 1997, một cuộc hội thảo khoa học về di tích danh thắng Phong Nha - Xuân Sơn được tổ chức tại Quảng Bình. Kết quả nghiên cứu khảo sát cho biết Phong Nha có 7 cái nhất:

1. Hang nước dài nhất.
2. Cửa hang cao và rộng nhất.
3. Bãi cát và đá rộng đẹp nhất.
4. Hồ ngầm đẹp nhất.
5. Thạch nhũ tráng lệ và kỳ ảo nhất.
6. Dòng sông ngầm dài nhất Việt Nam 13.969 m (41,907 ft).
7. Hang khô rộng và đẹp nhất.

Điều đặc biệt lý thú là tại khu di tích Phong Nha - Kẻ Bàng có cả một khu rừng nguyên sinh đang tồn tại nhiều loại động thực vật quí hiếm như vượn bạc má, cá chép tím, rùa vàng, và có cây chò hàng ngàn năm tuổi. Bởi những nét đặc sắc như vậy, động Phong Nha đã và sẽ là một điểm du lịch nổi tiếng của Việt Nam.

Đèo Ngang: Nằm ở phía Bắc của tỉnh Quảng Bình, trên trục đường quốc lộ 1A, cách thị xã Đồng Hới khoảng 80 km (50 miles). Đèo Ngang nằm trên dãy Hoành Sơn, một mạch núi của dãy Trường Sơn chạy ngang ra biển Đông. Đèo Ngang dài 2.560 m (7,680 ft). Đường lên đèo quanh co uốn khúc vượt qua nhiều sườn đồi có độ dốc thoai thoải. Vượt đèo Ngang du khách có cảm giác như đang bồng bềnh giữa các mỏm núi đá hoa cương óng ánh. Đỉnh núi cao khoảng 250 m (750 ft). Đứng từ đỉnh đèo, một khung cảnh ngoạn mục sẽ hiện ra dưới mắt du khách: phía Tây là đỉnh núi nhấp nhô của dãy Hoành Sơn, phía Đông là những trảng cát trắng điểm màu xanh của các rặng phi lao. Xa xa là biển cả mênh mông với những hòn đảo lô nhô tận chân trời khiến cho cảnh sắc nơi đây vừa hài hòa, vừa thơ mộng.

Khu danh thắng Lý Hòa: Khu danh thắng Lý Hòa nằm bên quốc lộ 1A, cách thị xã Đồng Hới 24 km (15 miles). Lý Hòa là một đèo nhỏ. Ngay dưới chân đèo Lý Hòa là những dãy đá nhấp nhô trên mặt nước. Cách đó không xa là một bãi cát trắng mịn dài, nước trong xanh, sóng nhẹ được gọi là bãi tắm Đá Nhảy. Phong cảnh ở khu này rất hữu tình, là nơi tắm biển lý tưởng và đây cũng là điểm đón khách đi thăm động Phong Nha bằng đường sông.

Bãi tắm Nhật Lệ và di tích Bàu Tró: Khu danh thắng cách thị xã Đồng Hới 2 km (1.25 miles) về phía Bắc gần cửa sông Nhật Lệ. Bãi tắm Nhật Lệ đẹp, phong cảnh hữu tình, thu hút nhiều khách du lịch đến tắm biển. Đến đây ngoài thú vui tắm biển, du khách còn được thăm di tích Bàu Tró. Năm 1923, nhà địa chất người Pháp đã khám phá và khai quật tìm thấy dấu tích người nguyên thủy thời kỳ đồ đá có niên đại cách đây 5.000 năm. Đó là điểm giao thoa của hai nền văn hóa Việt - Chămpa.

Suối nước khoáng Bang: Đây là nguồn nước khoáng quí hiếm có nhiệt độ sôi khoảng 105° C, ở cách thị xã Đồng Hới 60 km (37.5 miles) và cách huyện Lệ Thủy 21 km (13 miles) về phía Tây. Trong tương lai nơi đây sẽ được xây dựng thành khu nghỉ dưỡng, chữa bệnh cho khách trong và ngoài nước.

Làng biển Cảnh Dương: Làng biển nằm bên quốc lộ 1A, cách đèo Ngang 10 km (6.25 miles), cửa khẩu vùng Roòn, điểm tụ hội của nhiều luồng giao thông thuận tiện đường vào Nam ra Bắc. Làng biển Cảnh Dương là một trong những làng biển sầm uất và thịnh vượng của các làng biển Quảng Bình. Làng biển Cảnh Dương có bề dày lịch sử, văn hóa truyền thống. Năm Quý Mùi (1643), các ông tổ đầu tiên của làng từ trang Nghi Lộc (Nghệ An) vào vùng cát cạnh cửa Roòn lập nghiệp. Năm tháng trôi qua, làng đông đúc dần, công việc chày lưới, chế biến hải sản, bán buôn ngày càng phát đạt. Làng trở nên giàu có và thịnh vượng. Sinh hoạt văn hóa ở hương thôn theo đó mà phát triển. Hoạt động văn hóa, văn nghệ dân gian ở Cảnh Dương có nhiều hình nhiều vẻ, mang sắc thái địa phương. Xuân thu nhị kỳ, làng mở hội rước thần, hội đánh cờ người, hội nấu cơm thi, hội trải, hát chèo cạn... Cảnh Dương xứng đáng là một trong những làng văn vật (Sơn - Hà - Cảnh - Thổ; Văn - Võ - Cổ Kim) của Châu Bố Chính xưa và nay.

Huyện Phong Lộc có hai núi đẹp. Núi Đầu Mâu hùng vĩ, cao nhọn. Núi Thần Dinh thuộc huyện Quảng Ninh, trên núi có chùa Kim Phong, hang Cầm Nguyệt, động Chuông, động Trống có giếng đá nước ngọt bốn mùa.

Khe Đông Hồi bắt nguồn từ núi Ông Hồi, nơi Nguyễn Hữu Dật và Trương Văn Vân đánh bại quân Trịnh vào năm 1662 khe Lôi chảy từ Thạch Bàn đổ ra cửa Ròn. Động Lạc Sơn trên một núi đá vôi cao 294 m (882 ft), trên thành động có khắc 32 hình vẽ thuộc triều vua Chàm Indrapura (980 - 986). Động Minh Lâm là một hình bầu dục, có chiều cao là 15 m (45 ft),và rộng 8 m (24 ft).

Huyện Quảng Trạch, làng Phan Long, quê Nguyễn Dương Danh nhà nghèo, lúc nhỏ đã mồ côi phải đi chăn trâu cho người bác, tối về bắt đom đóm để làm "đèn" tập đọc và viết những gì nghe lóm được từ con của người bác, vì thế đỗ tú tài rất sớm; năm 31 tuổi đỗ Giải Nguyên Khoa Giáp Ngọ (1834) đời Minh Mạng; ông làm quan thanh liêm, thương dân; lúc qua đời chỉ để lại cho con cháu một mái nhà tranh nhỏ hẹp. Làng Trung Ái là quê nguyễn Hàm Ninh, bạn thơ của Cao Bá Quát, danh sĩ và danh thần trải qua ba đời vua Minh Mạng, Thiệu Trị và Từ Đức; tính khí bộc trực nên cho dù vua có làm trái ông vẫn làm thơ phê phán thẳng thắn; ông là tác giả Tịnh Trai Thi Tập, Dược Sư Ngẫu Đề, Phản Thúc Ước...

Huyện Lệ Thủy, quê Dương Văn An, đỗ Đồng Tiến Sĩ đời Mạc, năm 1547; ông có công sửa chữa bộ Ô Châu Cận Lục. Quê Nguyễn Đăng Thạnh, văn thần đời chúa Nguyễn Phúc Khoát, tác giả Hiệu Tần Thi Tập, Chuyết Trai Văn Tập, Chuyết Trai Vịnh Sử Tập... Em ông là Nguyễn Đăng Tuấn rất giỏi thơ phú, văn quốc âm, tác giả Minh Khiêm Thi Tập; dòng họ ông có rất nhiều người khoa bảng. Đây cũng là quê Nguyễn Đăng Tuân, danh sĩ và lương thần nổi tiếng đời Nguyễn; con ông là Nguyễn Đăng Giai, danh thần cùng thời, giỏi quân sự và bang giao quốc tế.

Quảng Bình còn là quê Nguyễn Trọng Cẩn, danh sĩ thời Nguyễn Mạt; năm 1927 làm chủ bút tạp chí Thần Kinh; ông có trí nhớ hơn người; văn viết lưu loát, tự nhiên; năm 1947, mất vì trúng đạn của quân Pháp.
 

KINH TẾ

Phần lớn dân sinh sống trong tỉnh thường là người Kinh. Ngoài ra còn có một vài sắc tộc khác như Vân Kiều, Tôi Oi (còn gọi là Pacoh), Khatu. Tôn giáo chính là đạo Phật, Thiên Chúa, thờ phụng Tổ Tiên và Thần Linh.

Vì đất Quảng Bình có nhiều ruộng cát nên ít đất trồng trọt tốt. Chỉ có huyện Lệ Thủy là nhiều ruộng lúa. Hoa màu chính của tỉnh Quảng Bình là lúa gạo; gạo Lệ Thủy và Phong Châu rất ngon. Vùng thượng lưu trồng lúa núi gọi là lúa Lốc. Các hoa màu phụ là ngô, khoai, mía, hồ tiêu. Ngoài ra dân chúng còn trồng thuốc lá (huyện Lệ Thủy) có thuốc cửa rất nổi tiếng, bông, chàm chàm để nhuộm và dâu để lấy lá chăn tằm. Rừng Quảng Bình có khá nhiều lâm sản quí như lim, giáng hương, gụ, mun, kiền kiền và mây, tre, trúc xe điều, mật ong, sáp ong, cây dược liệu. Đất Bồ Chính có giống nhân sâm nổi tiếng.

Dân chúng còn làm nghề đánh cá ven biển. Vùng sông Ròn có nhiều tôm hùm. Khoáng sản trong tỉnh không nhiều, chỉ có mỏ đá vôi, sa thạch và phiến nham thạch cứng ở Quảng Ninh và Quảng Trạch.

LỊCH SỬ

Đất Quảng Bình xưa đã là đất Lập Quốc, thuộc bộ Việt Thường, một trong mười lăm bộ của nước Văn Lang. Đến thời Thục, An Dương Vương đổi tên nước là Âu Lạc. Quảng Bình thuộc Tượng Quận. Năm 207 trước Tây lịch, khi Triệu Đà chiếm Âu Lạc, đổi tên thành Nam Việt, chia nước thành hai quận thì Quảng Bình thuộc quận Cửu Chân. Năm 111 trước Tây lịch, nhà Tây Hán chiếm Nam Việt và đổi tên thành Giao Chỉ Bộ, chia đất thành chín quận thì Quảng Bình thuộc quận Nhật Nam.

Từ năm 39, Hai Bà Trưng khởi nghĩa, đến năm 192, dân ta ở Nhật Nam luôn nổi dậy chống lại sự xâm lược của nhà Hán. Sau đó đời Hiến Đế nhà Hán, một số người theo khu liên tự xưng là vua Crimara chiếm huyện Tượng Lâm, lập nước Lâm ấp rồi chiếm luôn quận Nhật Nam của nước ta làm ranh giới. Nước Lâm Ấp lần lượt đổi tên là Hoàn Vương và Chiêm Thành. Khi nhà Tùy chiếm nước Lâm Ấp, đất Quảng Bình chia làm hai huyện Thọ Linh và Tây Quyên thuộc Đằng Châu. Sau vua Lâm Ấp là Phạm Phan Chí lấy lại được, đất Quảng Bình thuộc hai châu Bố Chính và Địa Lý.

Tới 1069, vua Chiêm Thành là Chế Củ bị vua Lý Thánh Tông đánh thua, dâng ba Châu Bố Chính, Địa Lý và Ma Linh. Năm 1075, vua Lý Nhân Tông đổi Địa Lý thành Lâm Bình. Năm 1361,vua Trần Duệ Tông lần lượt đổi Châu Lâm Bình là phủ Lâm Bình, phủ Tân Bình (1375), và lộ Tân Bình. Năm 1400, Hồ Quí Ly đổi lộ Tân Bình thành Trần Tây Bình. Giặc nhà Minh lại đổi là phủ Tân Bình kèm thêm hai châu Bố Chính và Minh Linh. Dẹp xong giặc Minh, nhà Hậu Lê đặt thành lộ Tân Bình thuộc đạo Hải Tây. Năm 1469, vua Lê Thánh Tông đặt là phủ Tân Bình gồm hai huyện Lệ Thủy là Khương Lộc. Hai châu Bố Chính và Minh Linh tách ra thuộc về Thuận Hóa, phủ Tân Bình đổi tên thành Tiên Bình dưới đời vua Lê Kính Tông (1601).

Năm 1604, chúa Nguyễn Hoàng đổi phủ Tiên Bình thành phủ Quảng Bình, rồi là dinh Quảng Bình. Từ năm 1627, cuộc phân tranh Trịnh - Nguyễn đã chia đất Quảng Bình làm hai, lấy sông Gianh làm ranh giới, gây sôi động không lúc nào yên. Phía Bắc gọi là Bắc Bố Chính (đàng ngoài) và phía Nam là Nam Bố Chính (đàng trong), cũng gọi là Bắc Hà và Nam Hà. Năm 1831 vua Minh Mạng đặt lại tên thành tỉnh Quảng Bình và tên đó tồn tại đến ngày nay, chỉ thay đổi diện tích lớn nhỏ mà thôi.

Thời Pháp thuộc, khi kinh thành Huế thất thủ (5-7-1885), Tôn Thất Thuyết và hai người con là Tôn Thất Đạm và Tôn Thất Thiệp phò vua Hàm Nghi vào chiến khu Tân Sở. Nhưng biết lực chưa mạnh ông mang quân lên Quảng Bình. Ngày 30-7-1885, thay lời vua anh hùng Tôn Thất Thuyết truyền hịch Cần Vương kêu gọi toàn dân kháng chiến. Đáp lời sông núi có hai vị anh hùng là Lê Trực (người xã Thanh Thủy) và Nguyễn Phạm Tuân chiêu mộ nghĩa quân trong tỉnh, vừa theo bảo vệ vua, vừa tung quân đánh Pháp.

Giặc tăng cường nhân lực truy lùng bắt vua, đụng với nghĩa quân nhiều trận. Vì lực yếu ngày 8-4-1887, Nguyễn Phạm Tuân bị giặc bắt trong lúc trọng thương nhưng quyết không khai dù bị tra khảo và từ trần tại đồn Minh Cầm hai ngày sau. Bên cạnh vua chỉ còn anh hùng Tôn Thất Thiệp và một số người khác di chuyển khắp nơi, được đồng bào Mường giúp đỡ rất nhiều. Lúc này, vua Hàm Nghi mới 18 tuổi, phải sống lam lũ như dân , mặc quần áo nâu sờn ăn cơm với muối và bị sốt rét rừng hành hạ.

Ngày 26-9-1968, vì tên tùy tùng Trương Quang Ngọc làm phản mật báo nơi lẩn trốn. Vua bị bắt tại làng Thanh Lạng Tôn Thất Thiệp liều chết và tử thương khi bảo vệ vua. Cũng từ lúc anh hùng Phan Đình Phùng khởi nghĩa, những con đường rừng núi từ chiến khu Bình Thứ đến Hà Tĩnh - Nghệ An - Thanh Hóa rầm rập bước chân kháng chiến, phất phới áo dân quân tiếp vận.

Trước năm 1975, Quảng Bình có các huyện Tuyên Hóa, Quảng Ninh, Quảng Trạch, Bố Trạch, Phong Lộc, Lệ Thủy.

DI TÍCH

Thời Trịnh - Nguyễn phân tranh, vì Quảng Bình là địa đầu của Đàng Trong đánh với Đàng Ngoài nên nay còn khá nhiều di tích cũ. Dãy núi Trường Sơn cùng với vùng ven duyên tạo nên nhiều thắng cảnh thiên nhiên rất đẹp.

Chùa Hoằng Phúc: Chùa ở làng Thuận Trạch, Lệ Thủy. Xưa kia Hoằng Phúc là một ngôi chùa lớn. Năm 1609, chùa được làm lại và có tên là Kính Thiên. Năm 1716, chùa tu sửa và được chúa Nguyễn Phúc Chu ban cho một biển đề tên chùa, một biển đề đại tự: "Vô song phúc địa" (đất phúc khôn sánh) và 5 câu đối chữ Hán. Chùa có 9 quả chuông nặng hàng ngàn cân.

Lũy Hoành Sơn: Phân ranh Quảng Bình với Hà Tĩnh có đá chất làm lũy chạy suốt đến bờ biển. Ngày xưa nước Lâm Ấp đắp lũy này để phân ranh giới với Giao Châu, nay vẫn còn dấu tích của làng Lâm Ấp ở trong làng Trung Á, huyện Quảng Trạch.

Thành Ninh Viễn: Được đắp từ thời Tiền Lê, thuộc huyện Lệ Thủy ngày nay. Thành có một mặt dựa núi ba mặt cách sông lắm thế che cho Hóa Châu, ngoài cửa Nam có phiến đá khắc chữ "Ninh viễn thành trần bình nha cư yên."

Dinh Vó Xá: Thuộc huyện Quảng Ninh, phía Đông dinh là ruộng bùn lầy rất độc hại. Trước đây, trong lần đại chiến thứ tư, năm 1648, quân Trịnh bị quân Nguyễn tập kích tại vùng này, thiệt hại nặng nề. Vì vậy dân gian mới có câu ngạn ngữ :

"Hiểm nhất lũy Thầy
Thứ nhì đồng lầy võ xá."

Quảng Bình Quan: Quảng Bình Quan là một công trình kiến trúc gồm có cổng và hệ thống thành lũy được xây dựng năm 1630 để bảo vệ từ xa kinh đô Phú Xuân của chúa Nguyễn. Do biến thiên của lịch sử và thời gian, Quảng Bình Quan đã bị hư hại nặng. Hiện nay, Quảng Bình Quan đã được phục chế lại như nguyên bản cách đây hơn ba thế kỷ. Du khách ra Bắc vào Nam, ngang qua địa phận tỉnh Quảng Bình sẽ được chiêm ngưỡng Quảng Bình Quan, một di tích kiến trúc có giá trị lịch sử và nghệ thuật, đã đi vào văn thơ.

Lũy Đào Duy Từ: Hệ thống lũy Đào Duy Từ bắt đầu xây dựng từ năm 1630 đến năm 1662 nhằm ngăn chặn quân Trịnh. Hệ thống này gồm có bốn lũy chính: Lũy Trường Dục: Lũy dài 10 km (6.25 miles) bắt đầu từ chân núi Trường Dục đến đầm phá Hạc Hải; Lũy Nhật Lệ: bắt đầu từ cửa biển Nhật Lệ đến núi Đâu Mâu dài 12 km (7.5 miles). Lũy cao 6 m (18 ft), phía ngoài đóng gỗ lim, trong đắp đất làm 5 bậc; Lũy Trường Sa: chạy dọc theo bờ biển phía nam cửa Nhật Lệ dài 7 km (4.4 miles); Lũy Trấn Ninh: thuộc địa phận hai xã Động Hải và Trấn Ninh. Đây là dấu ấn của một thời nội chiến đau khổ dưới thời Trịnh - Nguyễn phân tranh kéo dài gần 200 năm.

Thành Đồng Hới: Thành được vua Minh Mạng cho xây dựng vào năm 1824. Thành có chu vi 1872 m (5,616 ft), mặt thành rộng 1,2 m (3.6 ft), cao 4,6 m (13.8 ft). Thành có 3 cửa: Tả, Hữu, Hậu xây bằng gạch. Dấu tích của thành Đồng Hới còn lại khoảng 500 m (1,500 ft).
 

LỄ HỘI

Là vùng đất đã một thời là ranh giới giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài, là điểm giao thoa hội tụ của nhiều luồng văn hóa, là chiến trường ác liệt trong hai cuộc kháng chiến bảo vệ Tổ Quốc, Quảng Bình ngày nay còn giữ được nhiều di tích lịch sử, văn hóa của nhiều thời đại khác nhau. Nằm ở vùng Bắc Trung Bộ, Quảng Bình mang những nét đặc trưng của truyền thống văn hóa khu vực này. Nhiều lễ hội gắn bó với cuộc sống sông nước như lễ hội cầu mùa, lễ cầu ngư... Tuy nhiên, Quảng Bình cũng là một địa phương có nhiều dân tộc cư trú vì vậy truyền thồng văn hóa cũng khá phong phú. Kho tàng văn hóa văn nghệ dân gian đa dạng, thể hiện ở đây có nhiều loại nhạc cụ như trống, thanh la, chiên núm, kèn, đàn... Đặc biệt là có nhiều làn điệu dân ca khác nhau. Hát sim là hình thức hát đối nam nữ của người Bru-Vân Kiều sống ở tỉnh Quảng Bình. Người Chứt có làn điệu dân ca Kà-tưm, Kà-lềnh; các truyền thuyết và truyện cổ dân gian dồi dào gồm nhiều đề tài khác nhau; nhạc cụ có khèn bè, đàn ống, lồ ô, sáo 6 lỗ...

Hội trải Quảng Bình: Cũng như dân cư sinh sống ở mọi miền sông biển, người dân Quảng Bình hàng năm mở hội đua thuyền. Hội đua thuyền có từ lâu trên mảnh đất Quảng Bình, trước thời chúa Nguyễn. Ở Bảo Ninh (Đồng Hới), trước đây hội đua thuyền tổ chức sáu năm một lần vào các năm Tỵ và Ngọ. Điều khác lạ là phần kết thúc lễ hội đua thuyền là lễ Buông Phao, tưởng nhớ người đã chết trên sông nước. Hội đua thuyền Lệ Thủy, theo truyền khẩu, được tổ chức hàng năm về mùa xuân hoặc dịp tháng 6 âm lịch kết thúc vụ mùa.

Trở Lại

     -o0o-

 

Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp về Tạng Thư Phật Học qua địa chỉ email: tangthuphathoc@gmail.com