Ninh Bình

ĐỊA LÝ

Diện tích: 1.402,7 km2.
Dân số (2004): 891.081 người.
Tỉnh lỵ: Thị xã Ninh Bình.
Các huyện: Thị xã Tam Điệp; huyện: Nho Quan, Gia Viễn, Hoa Lư, Yên Mô, Yên Khánh, Kim Sơn.
Dân tộc: Kinh (Việt), Mường, Thái, H'Mông, Dao...

Địa thế Ninh Bình gồm hai khu khác hẳn nhau: khu phía Đông là đồng bằng phù sa, có huyện Yên Khánh. Khu phía Nam và Tây là đồi núi, có huyện Nho Quan. Ở khu phía Nam và Tây này có hai dãi núi Tam Điệp (Ba Dội), một dãy núi đá vôi chạy dài theo hướng Tây Bắc - Đông Nam từ tỉnh Hòa Bình ra đến biển và chia làm ba đợt: đợt một nằm trong địa phận tỉnh Ninh Bình, đợt hai là ngọn cao nhất nằm ở ranh giới Ninh Bình - Thanh Hóa và đợt ba nằm trong tỉnh Thanh Hóa. Dãy núi Tam Điệp có chiều cao như đèo Tam Điệp (là nơi quốc lộ số 1 đi qua), đèo Đồng Giao, đèo Quán Các, đèo Chỉnh Đại... Khu đồng bằng có nhiều ngọn núi đá vôi đơn độc cao từ 50 tới 100 m (300 ft), như núi Thúy, Cánh Diều, Hồi Hạc...; những núi bất thường này tạo nên vùng cầm tú mang danh là "Vịnh Hạ Long trên đất liền".

Về phía Nam và Đông - Nam, tỉnh Ninh Bình ăn lan ra bờ biển; vùng phía Nam sông Đáy, mỗi năm phù sa lại bồi thêm ra biển, mở rộng đất đai. Là một nhánh của sông Hồng, sông Đáy là sông lớn nhất của Ninh Bình. Các sông khác chảy qua tỉnh là sông Nho Quan, Hoàng Giang và Chính Đại. Ninh Bình có nhiều sông nhỏ ở gần miền biển, giữ vai trò hữu ích là tháo bớt nước trong mùa nước lớn tránh nạn lụt lội. Sông Chính Đại (thuộc huyện Yên Mõ) có cửa Thần Phù, đây là nơi quân Chiêm Thành đổ bộ thủy quân đánh bất ngờ và chiếm được thành Thăng Long năm 1377 (đời vua Trần Duệ Tông). Trước đây, cửa biển Thần Phù có gió to sóng lớn, nên dân gian có câu:

Lên đênh qua cửa Thần Phù,
Khéo tu thì nổi, vụng tu thì chìm.

Đây cũng là nơi nhiều con sông hội tụ, con kinh từ sông Hồng qua sông Mã, sông Vân Sàng và sông Đáy đổ nước vào cửa Chính Đại. Giờ thì đất bồi ra biển khá nhiều nên cửa Thần Phù đã không còn gây cảm giác ghê sợ như xưa.

Khí hậu của tỉnh thuộc vùng tiểu khí hậu của đồng bằng sông Hồng. Nhiệt độ trung bình năm là 23,4° C. Thời tiết trong năm chia làm hai mùa rõ rệt: mùa khô và mùa mưa.

Ninh Bình là một tỉnh giàu tiềm năng về du lịch. Thiên nhiên đã ban tặng cho vùng đất này nhiều danh lam thắng cảnh kỳ thú, nhiều hang động nổi tiếng như Tam Cốc - Bích Động, Địch Lộng, động Tiên, động Hoa Sơn... Vườn quốc gia Cúc Phương nổi tiếng với hệ động thực vật phong phú đặc biệt là cây chò 1.000 năm tuổi. Mảnh đất này từ xa xưa đã là kinh đô của nước Đại Cồ Việt (tên của Việt Nam xưa) từ năm 968 đến năm 1010. Vì vậy vùng đất này có di tích lịch sử như cố đô Hoa Lư, quần thể nhà thờ đá Phát Diệm, chùa non nước... Tất cả những di tích và danh lam thắng cảnh này đã trở thành những tuyến du lịch rất hấp dẫn khách trong và ngoài nước.
 

THẮNG CẢNH

Núi Non Nước: Núi Non Nước còn gọi là núi Dục Thúy nằm ở phía Đông Bắc thị xã Ninh Bình, cao khoảng 70 m (210 ft), đỉnh núi tương đối bằng phẳng. Qua gần 100 bậc đá thì tới đỉnh. Không khí trên cao trong lành thoáng mát. Núi nằm ở ngã ba sông Đáy và sông Vân Sàng đã tạo nên vẻ đẹp sơn thủy hữu tình của thị xã Ninh Bình. Tại đây có hơn 40 bài thơ của các danh nhân lịch sử tạc trên vách đá. Núi Non Nước xưa kia còn là vọng gác tiền tiêu của cố đô Hoa Lư.

Núi Ngọc Mỹ Nhân: Núi nằm ở phía Đông thị xã Ninh Bình, còn có tên gọi là núi Cánh Diều. Núi gắn liền với truyền thuyết về sự hóa thân của Cao Biền - một tướng giỏi, đồng thời là một pháp sư đời nhà Đường (Trung Quốc). Núi có ba ngọn, ngọn giữa cao, hai ngọn tả hữu chỉa ra như hai cánh chim. Trên núi có chùa, xung quanh có nhiều hang động u minh. Núi có tên gọi là Ngọc Mỹ Nhân vì nhìn vào núi du khách như thấy hình một cô gái tóc xõa, mình trần nằm trên cánh đồng rộng mênh mông. Núi Ngọc Mỹ Nhân là một ngọn núi đẹp nhất của tỉnh Ninh Bình.

Bích Động: Động Bích nằm trong dãy núi Ngũ Nhạc Sơn thuộc địa phận thôn Đam Khê, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư. Năm 1773, cụ Nguyễn Nghiễm (thân sinh của đại thi hào Nguyễn Du) đã đến thăm động. Nhìn toàn cảnh núi, động, sông nước, đồng ruộng bầu trời ở đây đều phủ một màu xanh ngợp mắt nên cụ đã đặt cho động một cái tên rất đẹp và mộng mơ "Bích Động" (có nghĩa là động xanh). Đến đây du khách sau khi viếng thăm chùa, con thuyền nhỏ sẽ đưa du khách đi quanh co trong hang núi huyền ảo. Bích Động đã được mệnh danh là "Nam Thiên Đệ Nhất Động" động đẹp thứ nhì ở trời Nam.

Rừng quốc gia Cúc Phương: Rừng cách Hà Nội khoảng 100 km (62.5 miles) về phía Tây Nam, ở vị trí giáp ranh giới giữa ba tỉnh Ninh Bình, Hòa Bình, Thanh Hóa và chỉ cách biển 60 km (37.5 miles). Rừng có diện tích 25.000 ha, trong đó 3/4 là đá núi vôi cao 300 - 600 m (1,800 ft) so mặt biển.

Khu rừng nguyên sinh này được phát hiện từ năm 1960 đến năm 1962 được công nhận là rừng quốc gia. Ở đây có hang Đăn Đắn, động Người Xưa, có suối nước nóng 380
° C, có cây chò xanh, cây sấu cổ thụ... đều trên dưới 1.000 năm tuổi, có độ cao từ 50 đến 70 m (210 ft), con số thống kê cho biết Cúc Phương có tới 2.000 loài cây, cỏ khác nhau. Riêng hoa Phong Lan tới 50 loài. Có loài cho hoa và hương thơm quanh năm.

Cúc Phương có 262 loài động vật có xương sống, nhiều loài chim thú quý: gấu, ngựa, lợn lòi, hổ, báo, chồn, sóc khỉ... Có khu chăn nuôi nửa tự nhiên với các loài hươu, sao nai, khỉ vàng, voọc quần đùi, sóc bay, thằn lằn bay... Cúc Phương còn là quê hương của hàng trăm loài chim lạ và đẹp.

Động Hoa Sơn: Hoa Sơn động là một trong những động đẹp của tỉnh Ninh Bình, ở thôn Áng Ngũ, xã Ninh Hòa, huyện Hoa Lư. Động ở lưng chừng quả núi, thuộc dãy núi phía Đông Nam kinh thành Hoa Lư xưa.

Qua 153 bậc đá là đến động. Trước cửa động có hai pho tượng bằng đá được đánh bóng thờ hai ông bà có công tu sửa chùa "Bà Đẻ" ở hang động. Cửa Động Hoa Sơn có mây vờn, sương phủ linh thiêng, nước rơi tí tách quanh năm từ các nhủ đá. Chiều dài của động bằng chiều ngang của núi, dài khoảng 100 m (300 ft) xuyên qua núi gồm có ba hang liền nhau là Hang Hạ, Trung và Thượng.

Qua cửa tiền đi lên cao gần 3 m (9 ft) là hang Hạ và đây cũng chính là một ngôi chùa thờ Phật. Hai bên chùa là hai lối lên hang Trung. Hang Trung giống như một ngôi nhà vòm cao rộng khoảng 30 m (90 ft). Trần và hành lang bên trái có một số nhủ đá với những hình dáng sinh động. Từ hang Trung lên khoảng 8 m (24 ft) nữa làđến hang Thượng. Bước lên cao gần 2 m (6 ft) nữa là ra tới cửa Hậu. Đứng ở đây du khách lại có dịp ngắm nhìn một phần cảnh đẹp của non nước Ninh Bình.

Động Hoa Sơn là động xuyên qua núi nên mùa hè mát mẻ, mùa đông rất ấm áp. Đứng trước cửa tiền động Hoa Sơn, du khách sẽ có dịp ngắm nhìn toàn cảnh thiên nhiên thoáng đãng, có non cao, động thẳm, sông ngòi kỳ thú.

 

KINH TẾ

Đồng bào tại Ninh Bình đa số là người Kinh, chỉ có một số nhỏ người Mường sống ở phía Bắc và phía Tây huyện Nho Quan. Phần lớn dân chúng tỉnh này theo đạo Thiên Chúa, nhất là vùng Kim Sơn Phát Diệm. Một địa phận Công giáo được thành lập từ năm 1901, và một tu viện đào tạo Linh mục mở vào năm 1913.

Chung quanh tỉnh lỵ và trên bờ sông Đáy, dân chúng thường cấy lúa chiêm vì mùa khô không đủ nước. Miền cao thì trồng các loại cây kỹ nghệ như trà, trấu, cà phê và thuốc lá. Thuốc lá Ninh Bình khá nổi tiếng. Các hoa màu khác là đậu phọng (đậu lạc), dâu, mía, ngô...

Về phía Nam có nhiều rừng có nhiều cây mây, song (một loại cây mây), và tre. Tre hoa là loại tre rất tốt ở hai huyện Gia Viễn và Nho Quan. Rừng Ninh Bình có nhiều dã cầm dã thú. Vùng gần biển, như Phát Diệm, dân chúng trồng cói là một nguồn lợi đáng kể của Ninh Bình. Vùng gần sông biển, dân ta cũng làm nghề đánh cá. Khoáng sản của tỉnh không nhiều, chỉ có mỏ than ở Đồng Giao, vùng núi có nhiều đá hoa. Kỹ nghệ và thương mại Ninh Bình chưa phát triển nhiều, chỉ có ngành dệt và sản xuất chiếu ở vùng Phát Diệm là thịnh hành hơn cả.
 

LỊCH SỬ

Đất Ninh Bình xưa thuộc bộ Giao Chỉ, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Ninh Bình thuộc quận Giao Chỉ dưới đời nhà Hán, thuộc Châu Trường Yên dưới đời nhà Lương, và đổi thành Châu Trường vào đời nhà Đường. Thời ký tự chủ, Ninh Bình là nơi xuất phát của nhà Đinh và nhà Tiền Lê. Năm 968, Đinh Tiên Hoàng Đế đóng đô tại Hoa Lư thuộc làng Trường Yên và Gia Viễn ngày nay. Năm 1010, Ninh Bình thành phủ Trường Yên, sau đổi là Châu Đại Hoàng vào cuối thế kỷ 12. Đời nhà Trần đổi thành lộ, rồi lại đổi thành trấn Thiên Quan. Đời Lê Thái Tông (1434 - 1439), Ninh Bình sát nhập vào tỉnh Thanh Hóa; thuộc trấn Sơn Nam đời Vua Lê Thánh Tông, rồi lại thuộc về Thanh Hóa cho tới đời vua Minh Mạng. Năm 1839, Ninh Bình trở thành một tỉnh.

Sau khi Ngô Vương Quyền mất, đất nước ta lại lâm vào cảnh loạn 12 sứ quân tranh chấp nhau làm dân chúng ta thán. Anh hùng Đinh Bộ Lĩnh đã dẹp được mối loạn đó. Ông sinh trưởng ở động Hoa Lư, huyện Gia Viễn, khi còn thơ ấu đã cùng với trẻ mục đồng lấy bông lau làm cờ bày trận đánh nhau. Cậu bé Đinh Bộ Lĩnh đó sau được tôn là "Vạn Thắng Vương" vì đánh trận nào cũng thắng, dẹp hết nội loạn trong nước. Năm 968, Đinh Bộ Lĩnh lên ngôi, xưng là Đinh Tiên Hoàng Đế, đóng đô ở Hoa Lư, đặt tên nước là Đại Cồ Việt.

Trong thời nội chiến, Ninh Bình cũng giữ một vị trí then chốt vì đèo Ba Dội nằm trong dãy Tam Điệp là một cửa giao thông hiểm yếu giữa Ninh Bình và Thanh Hóa, dùng đường bộ từ Thăng Long vào Thanh Hóa hay từ Đàng Trong ra Đàng Ngoài, người ta phải vượt đèo này.

Năm 1789, khi đại quân Mãn Thanh kéo vào xâm lăng nước ta, ông Ngô Thì Nhậm đã khuyên các tướng Tây Sơn rút về đèo Tam Điệp cố thủ để nuôi chí kiêu căng của giặc và để toàn dân nhìn ra bộ mặt phản quốc của Lê Chiêu Thống mà đồng tâm chống giặc. Nhờ đó, ông đã tạo điều kiện thuận lợi cho cuộc đại phá quân Thanh của Quang Trung Hoàng Đế, vào mùa Xuân Kỷ Dậu.

Năm 1873, quân Pháp chiếm đóng Ninh Bình, sau đó chúng rút lui và trở lại chiếm đóng lần thứ hai vào năm 1887. Năm 1886, có anh hùng Đốc Tâm chỉ huy dân quân, được rất đông đồng bào Mường tham dự, tấn công quân Pháp nhiều trận, làm chúng thiệt hại nặng nề, và nhất là trận đánh ở huyện Nho Quan. Cũng tại Nho Quan, vào ngày 7-1-1915, quân Việt Nam Quang Phục Hội đánh chiếm các đồn bót của giặc Pháp.

Trước năm 1975, tỉnh Ninh Bình có các huyện Yên Khánh. Nho Quan, Kim Sơn, Gia Khánh, Gia Viễn và Yên Mõ.
 

DI TÍCH

Chùa Bích Động: Chùa Bích Động thuộc địa phận thôn Đam Khê, xã Ninh Hải, huyện Hoa Lư. Chùa được xây dựng theo kiểu chữ "tam" dọc theo sườn núi từ thấp lên cao: Hạ, Trung, Thượng.

Chùa được xây ở trên sườn núi, dựa vào thế núi. Chùa Hạ có 5 gian xây trên một nền cao dưới chân núi. Chùa thờ Phật. Gian giữa phía ngoài treo bức đại tự "Mạo Cổ Thần Thanh". Phía bên phải chùa Hạ, men quanh sườn núi leo khoảng 80 bậc đá là đến chùa Trung. Đây là ngôi chùa nằm ở lưng chừng núi bán mái ra phía ngoài, một nửa ngôi chùa gắn vào hang động, một nửa lộ thiên. Chùa gồm có ba gian thờ Phật. Từ gian bên trái chùa Trung qua cửa hậu, vào trong hang, bước lên 20 bậc đá, lên cao khoảng 6 m (18 ft) là đến động Tối. Ngay cửa động treo một chiếc chuông đồng lớn đúc năm 1707, niên hiệu Vĩnh Thịnh thứ 3, triều vua Lê Dụ Tông. Bước vào động, một cảnh trông tuyệt vời hiện ra trước mắt du khách. Những nhũ đá được thiên nhiên gọt rửa tạo nên tiên ông, cô tiên, tiểu đồng, rồng lượn, rùa bơi, chim đại bàng... Gần cửa động bên phải có ba tượng Phật bằng đá uy nghi sừng sững.

Leo tiếp 30 bậc đá theo sườn núi là lên đến chùa Thượng. Chùa còn được gọi là chùa Đông vì quay mặt ra hướng đông. Trong chùa có tượng Phật Bà Quan Âm. Hai bên chùa có hai miếu thờ Sơn thần và Thổ địa.

Từ trên chùa Thượng, du khách có thể ngắm nhìn một phần cảnh quan của Hoa Lư. Xa xa, du khách thấy một quả núi nhỏ, đá xếp từng lớp gọi là núi Chồng Sách. Sau núi Chồng Sách là một quả núi lớn gọi là núi Voi. Năm ngọn núi bao quanh chùa Bích Động là Ngũ Nhạc Sơn trông như năm cánh hoa sen.

Bích Động là một ngôi chùa cổ, dáng nét trang nghiêm mang đậm tính phương Đông. Núi, động và chùa đan quyện, hài hòa lại ẩn hiện giữa những cây đại thụ xanh biếc làm cho cảnh trí ở đây càng thêm thâm nghiêm, huyền hoặc. Đây là điểm du lịch nằm trong tuyến du lịch Tam Cốc - Bích Động rất hấp dẫn khách trong và ngoài nước.

 

LỄ HỘI

Cộng đồng các dân tộc sống trong tỉnh gồm có nhiều các dân tộc ít người nhưng các dân tộc ở đây chịu ảnh hưởng sâu sắc của phong tục tập quán và truyền thống văn hóa của người Việt (Kinh). Trong các dân tộc ít người cư trú ở đây, dân tộc Mường định cư khá lâu đời ở các xã thuộc các huyện miền núi, vì vậy các phong tục tập quán sinh hoạt, truyền thống văn hóa mang những nét giống như cộng đồng dân tộc Mường của Việt Nam. Là vùng đất lịch sử, là cố đô từ hơn 1000 năm trước, Ninh Bình có nhiều lễ hội phong phú. Tiêu biểu là một số lễ hội:

Trở Lại

 

     -o0o-

 

Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp về Tạng Thư Phật Học qua địa chỉ email: tangthuphathoc@gmail.com