Bắc Ninh

ĐỊA LƯ

Diện tích: 803,87 km2.
Dân số (2004): 983.465 người.
Tỉnh lỵ: thị xă Bắc Ninh.
Các huyện: Quế Vơ, Yên Phong, Tiên Du, Từ Sơn, Thuận Thành, Gia B́nh, Lương Tài.
Dân tộc: Việt (Kinh), Hoa, Tày...

Ba mặt tỉnh có sông tạo thành những ranh giới thiên nhiên. Phía Bắc là sông Cầu. Đông có sông Thái B́nh (thuộc Hải Dương, sát ranh giới với Bắc Ninh), Tây-Nam là sông Hồng Hà và Thái B́nh ăn thông với sông Đuống. Mùa nước lớn. Sông Đuống đổ nước ra sông Hồng Hà vào sông Thái B́nh.

Địa thế Bắc Ninh toàn đồng bằng ít núi cao, có một số ngọn núi đă đi vào thơ ca (núi Thiên Thai). Nhiệt độ trung b́nh khoảng 13,4° C, rất thích hợp cho du lịch. Ở huyện Tuyên Du có núi Chè 127 m (381 ft), núi Khánh hay Long Sơn, núi Bát Vạn, núi Phật Tích hay Lạn Kha Sơn (tục gọi là núi Rạm, núi Sơn Đông và núi Sơn Nam. Ở Quế Dương có núi Thiên Sơn. Hai núi Yên Sơn và Thiên Thai ở Gia B́nh. Hai quốc lộ 4 và 18 nối liền Bắc Ninh với các tỉnh lân cận. Phi trường ở Gia Lâm khá lớn.

Tỉnh lỵ Bắc Ninh cách Hà Nội hơn 30 km (18.8 miles), có quốc lộ chạy qua, có nhiều sông lớn, v́ vậy hệ thống giao thông đường bộ, đường sắt và đường sông đều thuận lợi.

THẮNG CẢNH

Đ́nh Đông Hồ: Đ́nh Đông Hồ c̣n gọi là đ́nh Tranh thuộc làng Đông Hồ, huyện Thuận Thành. Đ́nh vừa là nơi thờ Thành Hoàng làng, vừa là chợ tranh của làng, là nơi giao lưu tranh buôn bán tranh với khách hàng gần xa. Đ́nh hiện nay gồm có 6 gian bái đường, 2 gian hậu cung, kiến trúc theo kiểu chữ đinh lợp mái ngói mũi hài nhỏ. Đ́nh c̣n giữ nhiều di vật quí hiếm. Đ́nh Đông Hồ không chỉ là di tích mà c̣n là nơi sinh hoạt văn hóa của làng.

Chùa Bút Tháp: Chùa có tên chữ là Ninh Phúc Tự, tọa lạc ở phía tây thôn Bút Tháp, xă Đ́nh Tổ, huyện Thuận Thành, cách Hà Nội 30 km (18.8 miles). Chùa được dựng vào thời Hậu Lê (thế kỷ 17) theo Kiểu "nội công ngoại quốc", ngoài cùng là tam quan, tiếp đó là gác chuông hai tầng tám mái, rồi đến chùa Hộ. Sau chùa Hộ là nhà thượng điện có bày các bộ tượng Tam Thế, Tam Thân, tượng Phật Bà Quan Âm ngh́n mắt ngh́n tay cao 3,7 m (11 ft) có11 đầu, gần 1.000 tay, 1.000 mắt đặt trên ṭa sen do rồng đội, bên dưới là các h́nh trang trí sóng nước, tôm cua, ốc rùa... bốn gốc bệ là 4 pho tượng lực sĩ trông rất sống động. Trong chùa có nhiều cổ vật quí giá, nhiều tháp đẹp, nổi tiếng nhất là tháp Báo Nghiêm, nơi đặt xá lị của thiền sư Chuyết Chuyết. Tháp xây bằng đá, tám mặt, năm tầng, cao 13 m (39 ft), đỉnh tháp h́nh nậm rượu. Tháp Tôn Đức năm tầng cao 10 m (30 ft), nơi đặt xá lị thiền sư Minh Hạnh, vị tổ thứ 2 của chùa. Chùa được trùng tu nhiều lần. Đây là một trong những ngôi chùa danh tiếng vào bậc nhất ở Việt Nam.

Chùa Phật Tích: Chùa được khởi công dựng vào khoảng thế kỷ thứ 7-10 ở sườn núi Phật Tích, xă Phật Tích, huyện Tiên Du. Đến đời Lư, chùa được trùng tu đại qui mô. Năm 1057, vua Lư Thánh Tông cho dựng ngôi tháp báu và đúc pho tượng ḿnh vàng. Năm 1947, chùa bị hỏng nặng. Năm 1991 chùa được trùng tu theo kiến trúc xưa. Một số di vật khác hiện c̣n lại ở chùa như tượng Phật A Di Đà tạc bằng đá xanh ngồi trên ṭa sen cao 1,87 m (5.61 ft), một vườn tháp, bức chạm đá nhạc công và vũ nữ...

Làng Tranh Đông Hồ: Đây là một làng nghề vẽ tranh dân gian nổi tiếng của Việt Nam ở làng Đông Hồ, huyện Thuận Thành. Nghề vẽ tranh dân gian của làng Đông Hồ đă có từ rất lâu đời. Trước đây, họ vẽ tranh phục vụ cho Tết Nguyên Đán. Ngày nay, họ vẽ tranh c̣n để bán cho khách hàng có nhu cầu bất kỳ lúc nào. Nguyên liệu để vẽ tranh là giấy dó (giấy được làm bằng cây dó giă nhỏ, lọc và cán mỏng), màu vẽ lấy từ chất liệu thiên nhiên như gạch non , lá cây, rễ cây, đốt thành than, mài ra. Để tạo ra màu nền lấp lánh, họ phải dùng vỏ con ṣ, nghêu (c̣n gọi là điệp), nung lên thành vôi, giă nhỏ, trộn với nhựa cây, phết đều lên giấy dó để tạo ra màu nền. Hầu hết tranh Đông Hồ đều phản ánh được ước nguyện ḥa b́nh, hạnh phúc, ấm no. Có một số tranh vẽ về động vật như ḅ, lợn, chó, mèo là những con vật gần gũi với người nông dân. Đặc biệt một số tranh với mảng đề tài "hứng dừa", "đám cưới chuột", "đánh ghen" rất hấp dẫn du khách trong và ngoài nước. Hiện nay, làng tranh Đông Hồ c̣n làm thêm đồ hàng mă để phục vụ việc tế, lễ.

Hàng năm, chợ tranh được họp vào dịp Tết Nguyên Đán tại đ́nh Đông Hồ. Khách ở quanh vùng và các tỉnh xa nô nức về chợ để mua tranh. Hội thi đồ mă cũng được tổ chức tại đ́nh từ chiều 14 tháng 3 đến 18 tháng 3 âm lịch hàng năm. Chợ tranh và hội thi đồ mă được tổ chức hàng năm phần nào phản ánh được nét đặc thù trong hoạt động kinh tế-văn hóa của người dân làng Đông Hồ.

 

KINH TẾ

Đồng bào Bắc Ninh theo đạo Phật và Thiên Chúa. Trước năm 1954, dân chúng đều mở hội vui Xuân hàng năm rất lớn và có nhiều tục lệ giải trí đặc biệt như hát Quan Họ (phỏng theo các điệu hát của triều đ́nh ngày xưa, có từ đời Hậu Lê), tục kéo co, đánh vật, đánh đu, thả diều, đánh cờ người, bơi thuyền... Phụ nữ hai làng Đáp Cầu và Thị Cầu nổi tiếng đảm đang.

Kinh tế của Bắc Ninh cũng giống các tỉnh lân cận. Ngoài hoa màu chính là lúa, dân ta c̣n trồng ngô, đậu phộng, khoai lang, khoai sọ, cau và các loại rau. Cây kỹ nghệ có mía, thầu dầu, thuốc lá, trà, dâu nuôi tằm và một số cây ăn trái. Làng Hiện Ngang trồng rau muống rất ngon, làng Phụng Pháp có dưa gang nổi tiếng ở Yên Viên trồng nhiều nhăn, huyện Từ Sơn trồng thuốc lá thơm và khế ngọt. Bắc Ninh không có khoáng sản v́ đất do phù sa tạo nên nhưng nhiều đất sét dùng làm đồ gốm. Các làng Bát Tràng, Thổ Hà và Phú Láng gạch, chum vại, đồ sành... rất nổi tiếng.
 

LỊCH SỬ

Thời lập quốc, đất Bắc Ninh thuộc bộ Vũ Ninh, một trong 15 bộ của nước Văn Lang. Đến đời Hán thuộc Giao Chỉ, sau đó thuộc Giao Châu. Bắc Ninh thuộc đạo Bắc Giang dưới đời nhà Đinh, trở thành lộ vào đời Tiền Lê và Hậu Lư. Đây là vùng xuất phát nhà Hậu Lư, vua Lư Thái Tổ quê ở làng Cổ Pháp, làm vua 19 năm (1010-1028). Đời nhà Trần, đất này là lộ Kinh Bắc, sau đổi thành trấn Kinh Bắc vào năm 1337. Khi giặc Minh xâm chiếm nước ta, Bắc Ninh thuộc phủ Bắc Giang. Dưới đời Hậu Lê, tỉnh này tổ chức thành Bắc Đạo năm 1456. Đến năm 1469, đổi thành xứ, sau cải thành trấn dưới đời Lê Tương Dực (1509-1516). Nhà Mạc đặt là phủ Thuận An thuộc Hải Dương. Nhà Lê Trung Hưng tái lập thành trấn Kinh Bắc. Năm 1593, thuộc Bắc Thành. Dưới triều Nguyễn, đổi là trấn Bắc Ninh từ năm 1822. Năm 1831 được đổi thành tỉnh Bắc Ninh.

Đất Bắc Ninh từ ngàn xưa sớm có anh hùng đánh giặc cứu nước. Đời Hùng Vương thứ 6 đă ghi chép việc Thánh Gióng tại làng Phù Đổng (huyện Vơ Giảng) đánh đuổi giặc Ân. Thời Hai Bà Trưng khởi nghĩa. Dân chúng Bắc Ninh ào ạt tham gia giải phóng hai vùng Thuận Thành (Luy Lâu) và Yên Phong (Long Biên). Năm 545, khi anh hùng Triệu Quang Phục lập căn cứ Dạ Trạch ở Hưng Yên, hai tướng giỏi ở Bắc Ninh là Trương Hồng và Trương Hát theo pḥ lập nhiều công trận. Năm 1076, giặc Tống sang đánh nước ta, anh hùng Lư Thường Kiệt chặn một đạo quân của chúng trên sông Như Nguyệt (khúc sông Cầu gần làng Như Nguyệt); trận đầu tiên diệt hơn một ngàn giặc. Nhưng giặc từ các hướng khác tràn đến, dùng máy bắn đá làm quân ta không tiến được. Lư Thường Kiệt làm bốn câu thơ cho người đọc lớn vọng ra từ đền thờ ông Trương Hát, làm quân ta nức ḷng chiến đấu. Dùng thơ phá giặc, sáng kiến vận dụng của tiền nhân là gương sáng cho văn nghệ sĩ thời sau. Bốn câu:
 

"Nam quốc sơn hà Nam đế cư,
Tiệt nhiên định phận tại thiên thư,
Như hà nghịch lỗ lai xâm phạm,
Nhữ đẳng hành khan thủ bại hư !"

Là bản tuyên ngôn độc lập của dân tộc, không ai không nghe thấy một lần. Đến năm 1284, Thoát Hoan chỉ huy 50 vạn quân Mông Cổ sang đánh nước ta lần thứ hai. Vua Trần Nhân Tông triệu tập quan tướng hội nghị trên sông B́nh Than (thuộc làng B́nh Than, huyện Gia B́nh chỗ sông Đuống nối với sông Thái B́nh). Người anh hùng Trần Quốc Toản, mới 15 tuổi nên không được dự bàn lấy làm tức giận, bóp quả cam trong tay mà không hay.

Khi quân Pháp tiến đánh các tỉnh miền Bắc, chúng đem nhiều bộ binh và pháo binh tấn công thành Bắc Ninh, nghĩa quân ta đánh trả mạnh mẽ nhưng thành vẫn lọt vào tay giặc ngày 12-3-1884. Năm 1886, cuộc nổi dậy Bảy Sậy lan rộng khắp nơi, đồng bào Bắc Ninh góp phần không nhỏ.

Đây là nơi sinh trưởng của anh hùng Nguyễn Cao (làng Cách Bi huyện Quế Dương), người xem bằng cấp Giải Nguyên và chức Tán Lư Quân Vụ của Tự Đức như hạt bụi, ông đi theo Nguyễn Thiện Thuật kháng chiến, huấn luyện du kích cho nghĩa quân. Khi chiến khu Băi Sậy bị thất bại, ông về làng, cải trang dạy học đợi thời cơ. Năm 1887, khi quân Pháp bắt, ông dùng móng tay khoét rốn, rút ruột rồi ném vào mặt kẻ thù và hỏi: "Ruột gan tao đây. Bây xem có khúc nào phản th́ bảo". Giặc xanh mặt và khiếp sợ dân Việt anh hùng.

Bắc Ninh cũng là quê của lănh tụ Trần Trung Lập, ông đă cùng với hai anh hùng Trịnh văn Cấn, Lương Ngọc Quyến khởi nghĩa ở Thái Nguyên năm 1917, sau ông tham gia Việt Nam Quang Phục Hội và chỉ huy các trận đánh đồn bót Pháp tại Lạng Sơn vào năm 1940. Làng Đa Ngưu có anh hùng Phó Đức Chính, chiến sĩ anh dũng của Việt Nam Quốc Dân Đảng, ông cùng với 12 chiến sĩ khác bị xử chém ở Yên Bái. Trước khi chết, ông đă yêu cầu giặc cho nằm ngửa để nh́n lưỡi dao rớt xuống như thế nào.
 

DI TÍCH

Đền Đô: Đền được xây dựng dưới thời nhà Lê. Đền đă được trùng tu nhiều lần, lớn nhất vào triều Lê Hưng thế kỷ 17 với kiểu "nội công ngoại quốc" xung quanh có tường thành bao bọc. Đền được chia làm hai khu vực: nội thành và ngoại thành. Nội thành gồm nội thất và ngoại thất. Nội thất gồm nhà hậu cung đặt ngai thờ và bài vị tám vị vua Lư. Bao quanh nội thất có tường gạch cao 3 m (9 ft), rộng 1 m (3 ft). Ngoài thất gồm có nhà vuông kiến trúc kiểu chuồng diêm, tám mái gồm nhà chủ tế, nhà kho, nhà sách, đền vua Bà (Lư Chiêu Hoàng). Giữa khu ngoại thất là 5 cửa rồng có đường lát đá xanh đi thẳng lên nhà vuông. Khu vực ngoại thành sát với tường thành ở hai đầu hồi nhà khách, mỗi bên 4 gian nhà kiệu. Từ năm cửa rồng đi thẳng tới sát bờ hồ là nhà biểu diễn rối nước theo kiểu chuồng diêm 8 mái, 8 đao cong. Bên hồ bán nguyệt là nhà bia.

Đền Đô c̣n giữ được nhiều cổ vật quí, nhiều tài liệu lịch sử quan trọng, đặc biệt là tấm văn bia cổ của Trạng nguyên Phùng Khắc Khoan vào năm 1602. Đền Đô không chỉ là một di tích lịch sử văn hóa mà c̣n là một thắng cảnh đẹp của đất Kinh Bắc.

Chùa Dâu:  Chùa ở thôn Khương Tự (c̣n gọi là Làng Dâu), xă Thanh Khương, huyện Thuận Thành cách Hà Nội 30 km (19 miles). Chùa được dựng vào đầu thế kỷ thứ 3 ở vị trí giao điểm những con đường lớn, nơi tiếp thu đạo Phật và trở thành trung tâm Phật giáo thời bấy giờ. Trong Phật điện chính có pho tượng nữ thần Pháp Vân (nữ Thần Mây) ngồi trên ṭa sen, v́ vậy chùa được gọi là Pháp Vân Tự.

Trong khuôn viên chùa có ngọn tháp nổi tiếng, xây dựng thế kỷ thứ 6, với ư nghĩa như một thạch trụ ngăn cản luồng nghiệp chướng. V́ vậy tháp mang tên Ḥa Phong.

Bắc Ninh là vùng đất nổi tiếng về văn chương, trong số những danh nhân kể trên, ta c̣n biết những vị sau đây:

- Thiền Sư Vạn Hạnh (làng Cổ Pháp, huyện Từ Sơn), cao tăng đời Lê Đại Hành và Lư Thái Tổ, một nhà tư tưởng về Thiền Tông, có công khảo cứu về kinh luận nhà Phật và vận động đưa Lư Công Uẩn lên ngôi sáng lập nhà Lư.

- Bắc Ninh cũng là quê ngoại của Ngọc Hân Công Chúa (làng Nành, huyện Từ Sơn), con gái vua Lê Hiển Tông và là vợ anh hùng Quang Trung Hoàng Đế; Bà nổi danh tài hoa, trứ tác khá nhiều nhưng bị thiêu hủy gần hết, nay chỉ c̣n hai bài văn tế Vua Quang Trung và Ai Tư Văn, ghi lại ḷng thương tiếc của bà với bậc đại anh hùng.

- Thiền Sư Giáp Hải (làng Bát Tràng, huyện Gia Lâm), danh sĩ đời Mạc Đăng Doanh, tác giả Ưùng Đáp Bang Giao Tập, Thận Minh, Cao Lâu T́ Bà thi, Hoàng Sĩ Khải (huyện Lang Tài) nhà viết văn nôm nổi tiếng đời Mạc Phúc Hải, Hoàng Đức Lương (huyện Văn Giang), tác giả Trích Diễm Thi Tập. Đào Cử (xă Thuần Khang, huyện Thuận Thành), là một trong 28 nhà thơ của hội Tao Đàn, góp công thực hiện các văn thi phẩm Hồng Đức Quốc Âm Thi Tập, Thiên Nam Dư Hạ Tập. Thân Chinh kư sự. Nguyễn Xung Xác (làng Kim Đôi) hội Tao Đàn, tác giả Tiêu Tương Bát Cảnh. Đàm Thuận Huy (làng đông Ngạn), hội Tao Đàn, tác giả Mặc Trai Thi Tập. Đàm Văn Lễ (xă Lâm Sơn, huyện Quế Dương), trong hội Tao Đàn... tất cả đều là danh sĩ đời vua Lê Thánh Tông.

- Vũ Miêu (xă Xuân Lan, huyện Lang Tài), sử gia thời Lê Hiển Tông và Lê Cảnh Hưng, cùng với Nguyễn Hoàn, Phan Trọng Phiên và Uông Sĩ Lăng soạn bộ Đại Việt Lịch Triều Đăng Khoa Lục, bốn quyển, Cao Bá Quát (huyện Gia Lâm), Thi Bá đời Nguyễn, tác giả Cao Chu Thần Thi Tập, sau bị chết v́ vụ nổi loạn của Lê Duy Lương, Lê Duy Cự. Ôn Như Hầu Nguyễn Gia Thiều (xă Liễu Ngạn, huyện Thuận Thành) danh sĩ thời Lê Mạt, tác giả Cung Oán Ngâm Khúc, Từ Trai tập, hai bộ Sơn Trung Am, và Sở Từ Diệu để phổ nhạc. Nguyễn Đăng Đạo (làng Hoài Bảo huyện Tiên Du) đỗ Trạng nguyên đời Lê Hy Tông, tính khí trung trực, thương dân yêu nước, tác giả Nguyễn Trạng Nguyên phụng sử tập (tập thơ ghi chép các việc khi sang Tàu). Nguyễn Thanh Giản (huyện Từ Sơn, làng Hương Mặc) là danh sĩ nổi tiếng đời Lê uy Mục; ở làng Du Lâm cùng huyện, có Nguyễn Tư Giản, năm 22 tuổi đỗ tiến sĩ đời Thiệu Trị, tài kiêm văn vơ. Ông c̣n giỏi về kinh tế và từng cùng Nguyễn Trường Tộ dâng sớ xin canh tân đất nước nhưng Tự Đức không nghe, những tác phẩm văn học gồm Thạch Nông Thi Văn Tập, Duyệt Bộ Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục. Bắc Ninh c̣n là quê danh thần Nguyễn Văn Giai, tính liêm khiết, đại công thần trải ba đời Lê Thế Tông, Kinh Tông và Thần Tông.

 

LỄ HỘI

Kinh Bắc là vùng đất đạo Phật sớm thâm nhập ngay từ những thế kỷ đầu công nguyên. Đến đời nhà Lư Phật giáo đă đạt đến độ cực thịnh. Nhiều chùa, tháp đă được xây dựng ở đất Kinh Bắc và đă trở thành danh thắng, di tích lịch sử văn hóa là nơi tham quan văn cảnh của khách thập phương. Bắc Ninh là môït vùng đất cổ đồng thời là một trong những chiếc nôi của nền văn minh Việt Nam. Chính vùng đất này đă sinh ra những điệu hát dân ca Quan Họ đặc sắc, tiêu biểu cho loại h́nh dân ca trữ t́nh Bắc Bộ, đậm đà bản sắc dân tộc. Bắc Ninh c̣n là nột trong những địa phương có nhiều lễ hội. Mỗi lễ hội đều gắn với nét đẹp văn hóa truyền thống và những trang sử hào hùng của dân tộc. Mỗi độ xuân về, người Kinh Bắc lại rộn ràng vui trẩy hội.

Hội Chùa Phật Tích: Hội thường diễn ra trong 2 ngày từ ngày 4 đến 5 tháng giêng âm lịch tại chùa Phật Tích nhằm tưởng nhớ công ơn của vua Lư Thánh Tông. Hàng năm lễ hội được mở ra cho khách hành hương đến để lễ Phật, nghe kinh, cầu yên, cầu phúc, đồng thời để thăm di tích và thắng cảnh của đất Kinh Bắc.

Lễ hội chùa Dâu: Hội mở vào ngày 8 tháng 4 âm lịch tại làng Dâu, Thanh Khương, huyện Thuận Thành. Chùa Dâu thờ Phật Mẫu Man Nương. Truyền thuyết: Tương truyền Bà dùng giải yếm lấy được cây gỗ trôi trên sông và đem về cưa xẻ tạc được bốn pho tượng: Pháp Vân, Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện rồi đặt thờ trong bốn ngôi chùa, trong đó có chùa Dâu. Lễ hội mở vào ngày sinh của Man Nương. Đây là lễ hội tiêu biểu cho sự hội nhập của tín ngưỡng nông nghiệp vào đạo Phật. Trong hội có lễ rước tượng bà Dâu đi qua các chùa trong hệ thống chùa Tứ Pháp, chùa Đậu, chùa Dâu, chùa Tưởng. Phân hội có thi làm bánh dày là đặc sản của làng Dâu.

Trở Lại

     -o0o-

 

Xin gởi bài mới và ư kiến đóng góp về Tạng Thư Phật Học qua địa chỉ email: tangthuphathoc@gmail.com