Vĩnh Phúc

ĐỊA LÝ

Diện tích: 1.362 km2.
Dân số (2004): 1.115.700 người.
Tỉnh lỵ: Thị xã Vĩnh Yên.
Các huyện: Lập Thạch, Tam Dương, Bình Xuyên, Vĩnh Tường, Yên Lạc, Mê Linh.
Dân tộc: Việt (Kinh), Mường, Dao...

Vĩnh Phúc là tỉnh miền núi trung du Bắc Bộ, cách Hà Nội 60 km (37.5 miles) về phía bắc, tiếp giáp các tỉnh Tuyên Quang và Thái Nguyên ở phía bắc; phía đông và đông nam giáp Hà Nội, phía tây giáp tỉnh Phú Thọ, phía nam và tây nam giáp tỉnh Hà Tây. Địa hình chủ yếu là trung du và đồng bằng, đồi núi thấp. Nhiệt độ trung bình cả năm là 23,4° C. Vùng núi Tam Đảo khí hậu mát mẻ, nhiệt độ trung bình khoảng 21° C, là nơi nghĩ mát lý tưởng của miền bắc.

Phía Nam tỉnh Vĩnh Phúc là những cánh đồng mênh mông bát ngát, lác đác sông ngòi, kênh rạch, đồng lầy và một số hồ rộng. Phía Bắc là những đồi cỏ, cây cối cao dần tới dãy núi Tam Đảo. Dãy núi Tam Đảo khá lớn, nằm ở phía Bắc huyện Tam Dương, cao độ trung bình 1.340 thước, lan tới huyện Đại Từ của tỉnh Thái Nguyên, núi được đặt tên Tam Đảo vì có ba hòn núi cao là Thạch Bàn 1.388 thước, Thiên Thị 1.375 thước và Phú Nghĩa 1.400 thước. Dãy núi Tam Đảo có từ thời đệ nhị nguyên đại, cấu tạo bởi các phiến nham thạch lẫn nhiều mạch thạch anh. Ngoài ra còn các núi Ngang, núi Cổ (núi Trống).

Phần đất nằm dọc theo tả ngạn sông Hồng Hà do phù sa bồi lên. Hai sông chính chảy qua tỉnh Vĩnh Phúc là sông Cà Lồ và Hồng Hà. Tả ngạn sông Hồng Hà có nhiều ngòi nhỏ từ Tam Đảo đổ xuống rồi hợp thành sông Tiểu Đáy. Sông Cà Lồ phát nguyên từ Sơn Tây, dài khoảng mười cây số, chảy qua Vĩnh Yên, Phúc Yên, đến Bắc Ninh thì hợp với sông Cầu. Về mùa cạn thuyền bè không đi lại được vì lòng sông có nhiều bãi cát nổi lên.

Hệ thống giao thông của tỉnh đa dạng và khá phát triển. Tỉnh Vĩnh Phúc nằm gần kề ngay sân bay quốc tế Nội Bài, là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển kinh tế đối ngoại.
 

THẮNG CẢNH

Tam Đảo: Tam Đảo là một dãy núi dài 50 km (31.3 miles), rộng 10 km (6.3 miles), cách Hà Nội 86 km (53.8 miles), là khu nghĩ mát lý tưởng ở miền Bắc. Với phong cảnh thiên nhiên tuyệt diệu, Tam Đảo được biết đến từ thời Lý - Trần (thế kỷ 13). Cho đến đầu thế kỷ 20 (1904-1906), Tam Đảo mới được người Pháp xây dựng thành khu nghĩ mát, với 200 biệt thự, khách sạn, nhà hàng, sân chơi thể thao, bể bơi, sàn nhảy... ở độ cao 1000 m (3,000 ft) so với mặt nước biển.

Núi Tam Đảo có ba đỉnh cao nổi lên như ba hòn đảo: đỉnh giữa là đỉnh Bàn Thạch cao khoảng 1.388 m (4,164 ft), bên trái là đỉnh Thiên Nhị (chợ trời) cao khoảng 1.375 m (4,125 ft) trên có cột tháp vô tuyến truyền hình cao 93 m (2,79 ft). Bên phải là đỉnh Phù Nghĩa cao 1.400 m (4,200 ft). Tam Đảo có khí hậu mát mẻ quanh năm. Mùa hè nhiệt độ trung bình từ 20 đến 22
° C với sự luân chuyển 4 mùa rõ rệt trong ngày. Tam Đảo trở thành điểm du lịch tham quan hấp dẫn. Vào mỗi mùa hè điểm du lịch này thu hút hàng vạn du khách tới nghỉ ngơi dưỡng bệnh.

Những địa danh như: thác Bạc, cầu Đãi Tuyết, Am Gió, Thang Mây, hồ Xạ Hương, đập làng Hà và rừng cây nguyên sinh cũng là những điểm tham quan và nghỉ ngơi lý thú ở Tam Đảo.

Hồ Đại Lải: Đại Lải là một hồ nước nhân tạo thuộc địa phận huyện Mê Linh, cách Hà Nội khoảng 50 km (31 miles). Hồ rộng 525 ha, trên mặt hồ có đảo chim rộng 3 ha, chỗ cao nhất trên 23 m (69 ft). Phía tây và tây nam hồ là núi Thằn Lằn. Đứng trên đỉnh núi có thể quan sát được toàn cảnh khu vực hồ. Mặt hồ trong xanh, nhiều bãi tắm nhân tạo đẹp và bằng phẳng chạy theo những chân đồi thấp thoáng.

Đại Lải là một điểm du lịch nghỉ ngơi và an dưỡng của tỉnh Vĩnh Phúc cũng như của các vùng phụ cận. Khí hậu ở đây mùa hè mát mẻ, mùa đông ấm áp, phong cảnh thiên nhiên đẹp. Rừng Ngọc Thanh ở khu vực hồ có 500 ha rừng tự nhiên, 300 ha rừng mới trồng với hệ thống động thực vật rất phong phú. Đại Lải là một loại hình rất thích hợp cho loại hình du lịch cuối tuần, ngày càng hấp dẫn du khách.

Làng nghề gốm sứ Hương Canh: "Ai về mua vại Hương Canh " câu ca dao còn lưu truyền cho tới ngày nay đã chứng minh được sức sống của nghề gốm sứ vốn đã nổi tiếng từ lâu đời của tỉnh Vĩnh Phúc. Hương Canh cách Hà Nội khoảng 52 km (33 miles). Làng nghề gốm sứ Hương Canh ngày xưa chuyên sản xuất các loại hàng sành sứ bình dân phục vụ cho sinh hoạt hàng ngày của nhân dân như vại, chum đựng nước, ấm đun nước, sắc thuốc...

Các mặt hàng của Hương Canh đều có mặt ở hầu hết các nơi trên đất nước bởi trình độ nung tốt cũng như kỹ thuật nhào nặn và khuôn mẫu đạt đến độ tinh xảo. Khác với gốm sứ Bát Tràng là gốm sứ tráng men, còn gốm sứ Hương Canh chuyên về mộc nhưng vẫn đứng vững trên thị trường.

Ngày nay sản phẩm ở Hương Canh ngày càng đa dạng hóa, ngoài các sản phẩm truyền thống họ còn sản xuất thêm mặt hàng ngói lợp nhà và các loại bình, đồ giả cổ với chất lượng, mẫu mã đẹp. Làng ghề gốm sứ Hương Canh đang ngày một phát triển giúp cho đời sống nhân dân ở đây có công ăn, việc làm và thu nhập khá. Làng nghề sôi động hẳn lên nhờ lượng khách đến tham quan và mua hàng.

Chợ Tam Lộng: Đây là phiên chợ cưới họp hàng năm vào 25 tháng 12 của đồng bào H'Mông xung quanh xã Tam Lộng, huyện Tam Đảo. Ngày phiên chợ trai gái Mèo tới đây rất đông có cả ông bà già đi theo, quần áo chỉnh tề, trai gái gặp gỡ nhau trao đổi, tâm tình. Chợ họp đến chiều tối thì tan. Sau những lời giao ước bạn bè, trước khi chia tay, những cặp trai gái đã ý hợp tâm đầu dắt nhau vào chợ ăn uống. Những cặp trai gái làng sẽ thành vợ chồng, cưới xin theo tục lệ của bản.

KINH TẾ

Đồng bào ở tỉnh Vĩnh Phúc đa số là người Kinh, cũng có một số người Mường ở dãy núi Tam Đảo, người Mán ở các huyện Tam Dương, Lập Thạch, Bình Xuyên. Dân chúng theo đạo Phật và Thiên Chúa. Trước 1954, hàng năm vào mùa Xuân, dân chúng mở hội với nhiều tục lệ giải trí đặc biệt cổ truyền như: thi đánh vật, bơi thuyền, bắt chạch trong chum, thổi cơm, kéo co...

Vĩnh Phúc có nhiều ruộng nương. Ruộng ở đồng bằng màu mỡ, ruộng cao ở vùng giáp núi do người Mán và Mường canh tác nơi thung lũng và sườn núi; ruộng lúa trồng rồi không cấy lại. Ngoài ra còn có hoa màu phụ khác như ngô, sắn, mía, thuốc lá, dâu chăn tằm, trà. Rừng Tam Đảo có nhiều loại rắn độc nhất là "rắn xe điếu"; nơi ẩm thấp có rùa. Vĩnh Phúc cũng có nhiều cá. Cá Gáy ở Đầm Vạc nổi tiếng là thơm ngon, cá Anh Vũ tại sông Lô rất quý. Tại làng quê, dân ta cũng nuôi trâu, bò, heo,dê, gà, vịt...

Khoáng sản Vĩnh Phúc không nhiều, có mỏ sắt ở xã Khai Quang gần tỉnh lỵ, dãy núi Tam Đảo có mỏ bạc và đồng, đá vôi rất nhiều ở các dãy núi. Kỹ nghệ và thương mại tập trung vào các ngành nghề tiểu công nghệ như sản xuất đường, ép dầu, chum vại, đồ sành...

LỊCH SỬ

Đất Vĩnh Phúc có giá trị lập quốc, xưa thuộc bộ Văn Lang, một trong 15 bộ của nước Văn Lang, sau thuộc về Phong Châu, đế đô của đời Hồng Bàng (hay là địa phận của huyện Bạch Hạc, đây là nơi xuất phát đầu tiên của tổ tiên người Việt Nam ta. Từ năm 282 đến năm 272(trước CN), Phong Châu thuộc huyện Tân Xương. Đời nhà Trần, Vĩnh Yên là lộ Tam Đái. Đời Minh Mạng, năm 1822, gọi là phủ Vĩnh Tường thuộc tỉnh Sơn Tây. Năm 1890 đổi là đạo Vĩnh Yên, năm 1899, tỉnh Vĩnh Yên mới được thành lập gồm phần đất phía tả ngạn sông Hồng Hà của tỉnh Sơn Tây.

Năm 39, dân chúng tham gia cuộc khởi nghĩa của Hai Bà Trưng, giải phóng tỉnh Vĩnh Yên và các nơi khác, đánh đuổi giặc Tô Định về Tàu. Năm 545, anh hùng Triệu Quang Phục (người quận Châu Diên phủ Vĩnh Tường) theo cha là Thái phó Triệu Túc giúp vua Lý Nam Đế đánh giặc Lương và lập được nhiều công trạng. Năm 1426. Khi Bình Định Vương Lê Lợi tiến quân ra Đông Đô, dân quân Vĩnh Yên lại cùng các vị tướng Phạm Văn Xảo, Lý Triện, Trịnh Khả và Đỗ Bi đuổi giặc Minh. Chẳng bao lâu, hai anh hùng Trịnh Khả và Lê Khuyến giải phóng thành Tam Giang (trước thuộc huyện Bạch Hạc, sau thuộc Vĩnh Tường).

Quân Pháp sau khi xâm chiếm nước ta đã đặt đồn "lính Khố Xanh" tại Vĩnh Yên từ năm 1886. Năm 1892, anh hùng Hoàng Hoa Thám lãnh đạo cuộc khởi nghĩa Yên Thế, tung quân hoạt động khắp nơi làm quân Pháp nhiều phen điêu đứng. Năm 1896, đạo quân Pháp chiếm Yên Thế, ông Thám đem quân lên vùng rừng núi Tam Đảo lập chiến khu đánh nhiều trận sống còn với giặc. Huyện Vĩnh Tường Xã Yên Nhiên là quê quán của anh hùng Trịnh Văn Cấn, linh hồn cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên năm 1917, làng Thổ Tang là nơi sinh trưởng của anh hùng Nguyễn Thái Học, người lãnh đạo Việt Nam Quốc Dân Đảng; ông có một người chú là Nguyễn Quang Triển và hai người em là Nguyễn Văn Nho, Nguyễn Văn Lâm tất cả đều hy sinh vì nước.

DI TÍCH

Tháp Bình Sơn: Tháp nằm gần kề với chùa Vĩnh Khánh (chùa Then) thuộc địa phận thôn Bình Sơn, xã Tam Sơn, huyện Lập Thạch. Tháp được xây dựng vào đời Lý - Trần. Tháp Bình Sơn cao khoảng gần 16 m (48 ft). Tháp có 11 tầng, mỗi tầng có mái lượn cong. Lòng tháp rỗng, bệ tháp hình vuông mỗi cạnh dài 4,45 m (13.4 ft) và được thu nhỏ dần đến đỉnh. Tầng trên cùng của tháp mỗi cạnh dài 1,55 m (4.65 ft). Tháp được xây dựng bằng gạch đất nung già, màu đỏ sậm rắn chắc như sành, móng tháp được xây bằng gạch vồ, sâu tới hơn 1 m (3 ft). Mặt ngoài các tầng tháp được ốp gạch mịn mặt, màu đỏ sậm, có hoa văn trang trí với đường nét cầu kỳ, tinh xảo, hài hòa giữa các tầng tạo thành một khối kiến trúc hoàn hảo ở mọi góc độ. Trải qua nhiều thế kỷ, tháp bị nghiêng lệch và sụt lỡ một số chỗ và được trùng tu vào năm 1972, nền tháp được tôn cao 4 m (12 ft) bằng 1 bệ bê tông, kiến trúc được bảo tồn như cũ. Tháp Bình Sơn là di sản nghệ thuật kiến trúc độc đáo đời Lý-Trần còn được bảo toàn nguyên vẹn tới ngày nay.

Chùa Tây Thiên: Chùa tọa lạc trên đỉnh núi Tam Đảo, thị trấn Tam Dương. Chùa không rõ xây dựng năm nào nhưng đã qua nhiều lần trùng tu dưới thời Lê. Trong chùa có điện thờ Mẹ Thần Núi Tam Đảo (Tam Đảo Sơn Thần Mẫu Quốc).
 

LỄ HỘI

Vĩnh Phúc là tỉnh thuộc vùng đất cổ của nước Việt Nam, nơi có nền văn hóa lâu đời và đậm đà bản sắc dân tộc. Vĩnh Phúc cũng là địa bàn cư trú của nhiều dân tộc ít người, nhiều lễ hội truyền thống được phục hồi và phát triển.
Dân tộc Mường ở Vĩnh Phúc có nền văn hóa dân gian khá phong phú. Các truyện thơ, ca dao tục ngữ Mường phản ánh cuộc đấu tranh của con người với thiên nhiên, của nhân dân lao động đối với bọn áp bức thống trị, ca ngợi lao động, tình yêu lứa đôi.
Người Mường rất hay hát, thậm chí cả lúc thờ cúng, ma chay. Hát "xéo bùa" là điệu hát rất được ưa chuộng, cứ xong một bài hát lại cómột đoạn nhạc cồng chiên đánh theo một giai điệu nhất định. Ngoài ra dân tộc Mường còn có hát ví, hát đúm.
Người Việt (Kinh) có hát chèo, hát xoan, nhiều điệu múa dân gian của vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ.
Người Dao có vốn văn nghệ dân gian phong phú, nhiều truyện cổ, bài hát, thơ ca. Phụ nữ Dao mặc y phục rất sặc sỡ. Các loại hoa văn của người Dao độc đáo. Họ in hoa văn trên vải bằng sáp ong. Phong tục cưới xin, ma chay mang đậm màu sắc tôn giáo.

Trở Lại

 

     -o0o-

 

Xin gởi bài mới và ý kiến đóng góp về Tạng Thư Phật Học qua địa chỉ email: tangthuphathoc@gmail.com