Tuyên Quang

ĐỊA LƯ

Diện tích: 5801 km2.
Dân số (2004): 692. 500 người.
Tỉnh lỵ: Thị xă Tuyên Quang.
Các huyện: Nà Hang, Chiêm Hóa, Hàm Yên, Yên Sơn, Sơn Dương.
Dân tộc: Việt (Kinh), Tày, H'Mông, Dao, Nùng, Cao Lan, Hoa, Sán D́u...

Tuyên Quang có h́nh thể phức tạp v́ tạo nên bởi những dăy núi cao, ngăn cách nhau bởi lưu vực của bốn con sông chính chảy qua tỉnh. Giữa sông Hồng Hà và sông Chảy là dăy núi Côn cao 800 thước, kế tiếp là dăy núi Mỏ Rô và Sáu Tàu, rồi đến những ngọn núi thấp dần. Giữa sông Chảy và sông Lô là dăy núi Khánh, dăy núi này ngăn cách sông Chảy với thung lũng sông Bách. Núi Hùng, núi La cao từ 1.000 đến 1.100 thước và núi Bách Kha là những núi cao có rừng rậm bao phủ, có nhiều vách đá ăn thẳng ra bờ sông Lô. Giữa sông Lô và sông Gầm là một dăy núi cao, hầu như chưa có ai đến. Đường đi lên khập khểnh chênh vênh. Giữa sông Gầm và sông Cầu cũng có một dăy núi tương tự. Trên tả ngạn sông Đáy có dăy Tam Đảo với nhiều núi cao, nối tiếp là núi Lịch và núi Hùng.

Các sông chính của Tuyên Quang là sông Lô, sông Gầm, sông Chảy. Phát xuất từ Trung Hoa, sông Lô có hai chi lưu chính là sông Chảy và sông Gầm. Sông Gầm cũng phát xuất từ Trung Hoa và có nhiều nhánh sông như những ḍng suối nhỏ nhưng về mùa mưa lại biến thành những thác lớn rất nguy hiểm. Chi lưu chính của sông Chảy cũng có nhiều nhánh sông nước chảy xiết như những ḍng thác.

Khí hậu Tuyên Quang ẩm thấp và không trong lành, nhất là vào mùa mưa bị ảnh hưởng của rừng rậm. Thung lũng sông Đáy có nước độc và sương mù thường dày đặc đến 9 giờ sáng mới tan dần. Những vùng cao độ từ 400 thước đến 800 thước có khí hậu trong lành hơn, nhất là những vùng đá vôi.

Về giao thông Tuyên Quang được nối liền với các tỉnh khác nhờ quốc lộ 2 và hai liên tỉnh 11 và 13.

 

THẮNG CẢNH

Rừng nguyên sinh Na Hang: Khu rừng Na Hang là nơi tiếp giáp với hồ Ba Bể. Rừng có thảm thực vật khá dày và phong phú về chủng loại và nhiều loại động thực vật quí hiếm trong đó có loài Voọc mũi hếch là loại thú quí hiếm của thế giới. Rừng Na Hang đă được bảo tồn và sẽ trở thành khu du lịch trong tương lai.

Suối khoáng Mỹ Lâm: Suối khoáng Mỹ Lâm nằm cách thị xă Tuyên Quang 15 km 9.4 miles), giao thông thuận tiện. Nguồn nước khoáng Mỹ Lâm có nhiệt độ nóng 62° C, có nhiều lưu huỳnh, magiê, can xi và các loại khoáng chất có tác dụng chữa bệnh tốt. Ở đây đă h́nh thành khu du lịch phục vụ khách đến tắm nước khoáng và dưỡng bệnh.

 

KINH TẾ

Dân chúng Tuyên Quang bao gồm nhiều sắc tộc khác nhau; Người Thổ (cùng chi phái với người Thổ ở Cao Bằng), người Mán (có nhiều chi phái khác nhau), người Mèo ở vùng cao độ từ 400 đến 800 thước, người Kinh ở các vùng chung quanh Chiêm Hóa và một số ít người Mường.

Nếp sống của đồng bào ở đây cũng giống như người miền xuôi, về tôn giáo th́ thờ phụng tổ tiên, thần thánh, theo đạo Phật, Thiên Chúa. Đặc biệt, người Mán có phong tục về dự "phiên chợ cưới" tại xă Tam Lộng, tỉnh Vĩnh Yên, vào ngày 25 tháng Chạp hàng năm. Trong phiên chợ cưới này, những đôi trai gái yêu nhau thề nguyện dưới sự chứng kiến của các vị cao niên; sau đó, họ mời trở về bàn làm lễ thành hôn chính thức. Ngoài ra, người Mán c̣n có tục đặc biệt về chuyện nuôi gia súc, họ dự định để dành con vật nào vào việc ǵ th́ chỉ dùng vào việc đó, không dùng vào việc khác dù thiếu thốn đến đâu đi nữa.

Đất Tuyên Quang rất tốt, có thể trồng trọt mọi giống cây vùng nhiệt đới. Ngoài lúa núi và lúa đồng bằng là hoa màu chính, dân chúng c̣n trồng ngô, trá, thuốc lá, chàm và bông vải. Những loại rau cỏ Tây phương đem trồng ở đây rất tốt. Rừng Tuyên Quang chiếm bốn phần năm đất đai, có nhiều loại gỗ tốt như lát hoa, đinh, lim, sến, táu, xanh, thông, trai..., và rất nhiều nứa vầu, cây dược liệu.

Tuyên Quang có nhiều mỏ kẽm và các mỏ khác như mỏ kệ-thán, chi, than đá. V́ vậy, ngành kỹ nghệ và thương mại tại đây tập trung vào việc khai thác quặng mỏ, sản xuất dụng cụ khai thác lâm sản, vận chuyển hàng hóa về miền xuôi buôn bán.

 

LỊCH SỬ

Tuyên Quang nguyên cũng là một vùng đất thuộc xứ Thái, nhưng từ thế kỷ 13 đă chịu sự kiểm soát của triều đ́nh Việt Nam dưới đời nhà Trần. Triều Trần gọi là lộ Quốc Oai, sau đổi là châu Tuyên Quang. Dưới đời vua Trâàn Hiến Tông (niên hiệu Khai Hữu, 1329-1341), châu Tuyên Quang đổi thành trấn, rồi thành phủ Tuyên Hóa dưới thời Minh thuộc. Sau khi vua Lê Thái Tổ đuổi xong giặc Minh, ngài đặt phủ Tuyên Hóa thuộc Tây Đạo. Đời vua Lê Thánh Tông, Tuyên Quang gồm một phủ và năm huyện và trở thành tỉnh Minh Quang dưới triều vua Lê Uy Mục. Đời Lê Trang Tôn, đổi Minh Quang thành doanh An Tại, cho ḍng họ Vũ người Thái làm doanh trưởng.

Cuối thế kỷ 17, triều đ́nh vua Lê đặt quan chức người Kinh tại tỉnh lỵ để điều khiển các tộc trưởng Thái. Vua Gia Long lại đổi thành trấn Tuyên Quang, rồi trở thành tỉnh dưới triều Minh Mạng. Khi Pháp mới xâm chiếm nước ta. Phủ Yên B́nh là căn cứ kháng chiến chống giặc Pháp. Đồng bào Thái, Mường, Mèo, Thổ, Nùng cùng với dân quân các tỉnh lân cận đánh quân Pháp nhiều trận khốn đốn vào những năm 1884, 1885; thêm vào đó, quân Cờ Đen quấy nhiễu vùng Tuyên Quang khá lâu. Măi tới năm 1894, Pháp mới hoàn toàn chiếm được tỉnh này.

Trước năm 1975. Tuyên Quang có các huyện Yên Sơn, Yên B́nh, Hàm Yên, Sơn Dương, Chiêm Hóa và Đại Thi.

 

DI TÍCH

Thành cổ Nhà Mạc: Thành được xây năm 1552, thời nhà Mạc (thế kỷ 16) nằm ở trung tâm thị xă Tuyên Quang. Thành án ngữ bên bờ sông Lô. Thành được xây dựng kiên cố. Di tích c̣n lại gồm có hai cổng thành ở phía tây và phiùa bắc, cùng một số đoạn tường thành.

Di tích Đền Hạ: Đền Hạ ở thị xă Tuyên Quang. Đền được xây dựng năm 1783 thời Lê Cảnh Hưng (Hậu Lê). Đền có mái đao cong duyên dáng cùng những biểu tượng rồng, nghê đắp nổi trên lớp mái ngói vẩy. Toàn bộ khu đền in bóng lấp lánh trên mặt nước, nơi có khúc sông uốn lượn h́nh rồng. Di tích tôn giáo biểu hiện rơ nét qua các mảng hoa văn và các bức chạm trổ giai đoạn cuối nhà Lê, đầu nhà Nguyễn. Hiện nay trong đền c̣n có nhiều pho tượng cổ có giá trị về mặt nghệ thuật và lịch sử.

Đ́nh Tân Trào: Một ngôi đền nhỏ thờ thần sông, núi của làng Tân Lập. Đ́nh được dựng vào năm Quí Hợi (1923) theo kiểu nhà sàn cột gỗ, ba gian, hai chái, mái nhà lợp lá cọ, sàn lát ván.

Tuyên Quang không có di tích nào đáng kể. Thắng cảnh thiên nhiên là núi rừùng hùng vĩ, sông nước bao la, thác ghềnh chi chít. Đường đi từ tỉnh lỵ đến các vùng Yên Sơn, Lư Khê, Chiêm Hóa, Hàm Yên có nhiều phong cảnh đèo, núi vôi tuyệt đẹp nhưng chưa được khai thác thành những trung tâm du ngoạn. Ngoài ra thôn Vĩnh Khoái, xă An Nguyên, huyện Chiêm hóa (có sách chép thuộc tỉnh Thái Nguyên) có di tích Chùa Bảo Ninh Sùng Phúc. Người ta chưa rơ chùa này ở đâu, nhưng bia đá t́m thấy dưới chân núi Đan Hàm. Bia cao 1,45 m (4.35 ft), rộng 80 phân, ŕa bia có trạm h́nh rồng, mây đời nhà Lư, được đặt trên một con rùa đá lớn. Bài văn bia do Lư Thừa An (có sách chép là Nguyễn Thừa An) biên soạn năm 1107.

 

LỄ HỘI

Tuyên Quang là tỉnh có rất nhiều di tích lịch sử. Tỉnh Tuyên Quang có nhiều dân tộc ít người cư trú như Tày, H'Mông, Dao, Nùng, Sán D́u...

Lễ hội bản Giếng Tanh: Ngọc Sơn và Nghiêm Sơn là hai vị có công đánh giặc ngoại xâm, là người của vùng núi Sơn Cước. Lễ hội hàng năm diễn ra vào mùa xuân tại đền Bản Giếng Tanh thuộc huyện Yên Sơn, vùng dân tộc Cao Lan. Sau phần nghi lễ là mhiều tṛ vui đặc sắc như ném c̣n, chơi đu, múa dân gian.

Lễ hội quá tang của người Dao: Đây là lễ hội cấp sắc dành cho nam giới của dân tộc Dao. Theo tục lệ của dân tộc, con trai từ 18 tuổi trở lên điều được làm lễ để công nhận là người đă được trưởng thành. Sau phần lễ trang nghiêm là sang phần hội. Tiếng cồng, tiếng chiên, chũm chọe và tiếng khèn ḥa tấu rộn ràng theo những làn điệu dân ca, vũ hội của người Dao. Mọi người vừa múa vừa hát, vừa uống rượu cần và tổ chức tṛ chơi.

Trở Lại

 

     -o0o-

 

Xin gởi bài mới và ư kiến đóng góp về Tạng Thư Phật Học qua địa chỉ email: tangthuphathoc@gmail.com